Tôi gié̂t Nguyẽ̂n Bình: hò̂i ký Tham mưu trưởng Trung đoàn 25 Bình Xuyên Kim Trúc Trần Đồng Nai , 1972 - Indochinese War, 1946-1954 - 255 pages
Cái chết không rõ ràng của Quang Trung - Nguyễn Huệ, vị tướng bách chiến bách thắng. Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đã lật đổ 2 tập đoàn thống trị phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc. Tuy nhiên, vị vua này
HỒ SƠ 12 NGUYỄN THANH PHONG GIẾT NGƯỜI BÀI THU HOẠCH, giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Tư cách Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh Phong) MỤC LỤC 21 Tóm tắt hồ sơ vụ án 32 Kế hoạch hỏi 53 Bản luận cứ bào chữa cho Nguyễn Thanh Phong
Đêm năm canh lần nương vách quế, Cái buồn này ai để giết nhau, Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu, 240. Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa! Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ, Xe thế này có dở dang không? Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra! 245.
Năm 1936, ông được trả tự do, về Hải Phòng hoạt động cách mạng và xây dựng căn cứ riêng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, với ý nghĩa "Bình thiên hạ", chính thức ly khai Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Bình cùng với Hải Thanh
Năm 1573, ông giết vua Lê Anh Tông và đưa vua nhỏ Lê Thế Tông lên làm vua bù nhìn, bản thân nắm hết quân quốc đại sự. Trịnh Tùng được sử sách ghi nhận là nhà chỉ huy quân sự tài ba, người đã chặn được các cuộc tấn công của quân Mạc từ năm 1577 đến năm 1583.
oyF5U.
Hồ nước giết người Vào ngày 21/8/1986, một thảm họa diễn ra quanh khu vực hồ Nyos ở Cameroon khiến gần người dân và gần con vật chết chỉ trong một đêm. Một người đàn ông đi từ làng Wum đến làng Nyos đã phát hiện ra thảm họa đầu, anh ta trông thấy một con linh dương nằm chết bên đường. Sau đó, khi vào trong làng, anh ta phát hiện thêm xác của một con chó, hai con chuột và một vài con đàn ông quyết định tới khu lều trại phía trước để hỏi thăm tình hình thì hốt hoảng phát hiện ra xác người chết nằm la liệt khắp nơi. Sau khi tìm kiếm khắp nơi và không phát hiện ra ai sống sót, anh ta liền chạy về Wum báo sau một đêm, hồ nước kỳ lạ đã giết chết gần người và khoảng con vật xung quanh bán kính 20 km. Ảnh smithsonianmagChính quyền địa phương sau khi nhận được thông tin vụ việc lập tức cử cảnh sát tới điều tra. Theo thông tin từ các làng kế bên, cảnh sát biết trước khi diễn ra sự việc họ nghe thấy một âm thanh rất lớn tựa như bom đó, không khí xung quanh ngập tràn một mùi khó ngửi khiến người dân thiếp đi. Họ không biết rằng, ở làng Nyos sắp diễn ra một thảm họa không thể nào thống kê của cảnh sát, số người chết lên tới hơn Trên thi thể họ không một dấu hiệu nào chứng tỏ bị chấn thương hay có cuộc đụng độ nào đó dẫn tới tử vong. Bên cạnh đó, khoảng loài vật nuôi và hoang dã cũng chết một cách bí người nói, người dân làng Nyos và các con vật chết là do linh hồn ác quỷ trốn bên dưới hồ Nyos đã thoát nhóm chuyên gia được chính phủ Cameroon cử tới hiện trường để tham gia phá án. Trong quá trình điều tra, các chuyên gia nhận thấy thi thể nạn nhân tập trung chủ yếu trong bán kính 20km quanh hồ Nyos. Càng gần hồ, số lượng xác chết càng biệt, hầu hết người chết đều ở làng Nyos, nơi gần hồ nhất. Những ngôi làng nằm cách xa hồ có nhiều người sống sót thảm họa diệt vong, nước hồ Nyos đang từ xanh chuyển sang màu đỏ. Ảnh smithsonianmagSau nhiều ngày điều tra, các nhà khoa học đặt ra giả thuyết rằng do hồ Nyos nằm trên miệng núi lửa nên sau khi hoạt động trở lại, núi lửa này đã phun trào khí độc gây ra thảm nhiên, giả thuyết này nhanh chóng bị bác bỏ vì nhiều nhân chứng cho biết họ không hề thấy động đất hay hoạt động rung lắc nào. Đồ đạc và nhà cửa cũng không có dấu hiệu bị phá mắn, họ nhận được thông tin rằng nước hồ Nyos sau tiếng nổ lớn đã chuyển từ xanh ngắt sang đỏ và đục ngầu. Cuối cùng, các chuyên gia mới tìm ra “hung thủ” bí ẩn đã gây ra thảm họa là hồ Nyos. Ngăn chặn thảm họa tái diễn Trên thực tế, một vụ sạt lở diễn ra bên cạnh hồ Nyos. Vụ sạt lở này tạo thành một cơn sóng thần cao tới 25 mét khiến cho khu vực quanh hồ bị ngập. Nhưng, vụ sạt lở này cũng không thể giết chết ngần đó đáy hồ Nyos lại chứa một lượng khí CO2 khổng lồ. Sở dĩ, hồ Nyos được hình thành trên “đường núi lửa” Cameroon. Đường núi lửa này có thể hình thành từ 150 triệu năm Nyos lại hình thành trên miệng núi lửa. Các hồ ở miệng núi lửa thường có nồng độ CO2 cao hơn thông thường. Lượng CO2 thông thường không bị rò rỉ ra bên ngoài mà bay hơi khi nước hồ được bổ sung khi trời nhưng, hồ Nyos lại hết sức tĩnh lặng và ít phải chịu ảnh hưởng của biến động môi trường. Hồ nước này thay vì giải phóng CO2 lại tích chúng lại như một kho trữ khí áp suất cao. Thậm chí một lít nước hồ hòa tan tới hơn 5 lít ngăn chặn thảm họa tái diễn, các chuyên gia đã lắp nhiều đường ống dẫn khí CO2 bên dưới đáy hồ nước. Ảnh smithsonianmagKhi vụ sạt lở xảy ra, CO2 dưới đáy hồ bị dâng lên cao và bắn ra khỏi mặt nước. Khoảng 1,2 km3 khí CO2 được giải phóng trong vòng 20 giây hình thành một đám mây cao khoảng 100 m và tỏa ra xung quanh. Khi đám mây khí CO2 bao trùm, mọi ngọn lửa đang cháy đều bị tắt. Ngôi làng Nyos ở gần hồ gần như không thể thoát khỏi thảm họa diệt khi tìm ra nguyên nhân thực sự khiến gần người chết, hồ Nyos đã được các nhà khoa học và chức trách giám sát nghiêm ngặt. Một đường ống dẫn khí CO2 thoát ra ngoài đã được lắp đặt dưới đáy hồ. Sau khi thử nghiệm thành công vào năm 1995, ống thoát khí độc được chính thức đưa vào sử dụng năm đến mùa thu năm 2006, ống thoát khí vẫn hoạt động tốt và giải phóng được gần 20 triệu m3 khí mỗi năm, lớn hơn lượng khí nạp vào hồ. Các nhà khoa học cho rằng mức giảm này là quá điều đáng lo nữa là con đập tự nhiên ở phía bắc hồ Nyos đang bị xói mòn và có thể sập trong 5 năm. Nếu đập vỡ, 50 triệu m3 nước có thể tràn ra từ hồ, nhấn chìm tới người khi nó tràn qua các thung lũng bên hồ mất đi một lượng nước lớn như vậy, mực nước có thể giảm tới 40m. Áp lực nước giữ CO2 ở lại đáy hồ sẽ không còn và sẽ lại gây ra một đợt phụt khí CO2 kinh hoàng hơn vụ năm cùng, giải pháp mà giới khoa học gấp rút thực hiện là vừa gia cố đập tự nhiên bằng bê tông vừa lắp thêm 4 ống hút nữa để giảm lượng CO2 về mức an Smithsonianmag
Lê Thy đánh máy từ sách do TM gởi tặng Mùa Đông năm 1946. Trong căn nhà lớn, bịnh xá của khu 7 tại miền Đông Nam Bộ, giữa rừng già Tân Uyên, bác sĩ Nguyễn văn Hưởng, Bộ trưởng Y tế trong Ủy ban Hành Kháng Nam Bộ, không dấu nổi vẻ băn khoăn, lo ngại trên khoé mắt. Mặc dầu giữa chiến khu, Bác sĩ Hưởng cũng đội nón, áo choàng dài trắng muốt và đeo “găng” cao su. Các phụ tá, mang trên tay chiếc khay bạc đựng dụng cụ giải phẫu cũng lo âu chẳng kém bác sĩ khoa trưởng. Chưa bao giờ, trong căn phòng nhỏ giải phẫu, đèn “măng xông”, lại được thắp nhiều và sáng như vậy. Bác sĩ Hưởng đưa mắt quan sát bệnh nhân. Bệnh nhân nằm dài trên chiếc bàn mộc, chỉ còn thoi thóp thở, đôi mắt nhắm nghiền, sắc mặt trắng bệch, máu đỏ còn rỉ qua băng quấn trên ngực và bụng. Một người đàn ông cao lớn đeo kính trắng, mặc bà ba đen, khẽ đẩy cửa phòng bước vào – Thưa bác sĩ có chút hy vọng nào không ? Bác sĩ Hưởng trầm ngâm – Tôi không dám quả quyết nhưng còn nước còn tát. Giải phẫu trong tình trạng này có thể làm bệnh nhân chết tức khắc hay hy vọng cứu được. Ông bí thư nghĩ sao ? – Thưa tôi cũng nghĩ như bác sĩ “còn nước còn tát”, may ra cứu sống được Khu trưởng. – Vậy ông bí thư ra ngoài, chúng tôi bắt tay vào việc. Cửa phòng khép kín, Bác sĩ Hưởng bắt mạch bệnh nhân Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình, một lần nữa rồi quyết định giải phẫu. Những vết thương nơi ngực không nguy hiểm, đầu đạn đã trổ ra ngoài mà không phạm vào phổi nhưng 4 viên trúng bụng thì thực là trầm trọng. Bác sĩ Hưởng quay lại nói nhỏ với một viên phụ tá vài câu rồi mới bắt tay vào việc. Không khí trong phòng giải phẫu thật nặng nề. Tiếng “soạt soạt” của chiếc dao bạc giải phẫu trên da thịt át cả hơi thở của các bác sĩ đương hành nghề. Giọng chỉ huy của bác sĩ Hưởng máy móc, ngắn ngủi nhưng cực kỳ nghiêm trang”dao số 3, kìm số 1, kéo số 7, cắt đoạn này 2 phân nối ống cao su 1 phân, khâu lại bằng chỉ bạc số 6″. Các bác sĩ chuyên khoa làm việc như những chiếc máy tinh vi, nhanh nhẹn và đúng mức. Ánh sáng lên cao, xuyên qua các kẽ hở của cửa sổ làm lu mờ ánh đèn măng-xông vẫn chưa có ngọn nào bị tắt đi. Bác sĩ Hưởng xòe tay – Kẹp cuối cùng. Mọi ngưòi thở phào vì biết cnộc giải phẩu gần 12 giờ liên tiếp đã chấm dứt. Bác sĩ Hưởng hạ lệnh – Trong hai ngày đầu, phải thay phiên nhau, hai người thường trực suốt ngày đêm lo về tiếp máu và coi chừng hô hấp. Tới ngày thứ ba, thêm một người lo về lương thực. Chỉ dùng sữa và nước cháo loãng bơm thẳng vào bao tử, mọi biến chứng dầu nhỏ nhặt tới đâu cũng phải cấp tốc cho tôi hay. Khu trưởng sẽ hôn mê ít nhất trong một tuần. Qua thời gian đó là chắc sống nhưng phải điều dưỡng trong sáu tháng. Bác sĩ Hưởng ra khỏi phòng giải phẫu, không phải để nghỉ ngơi, mà cấp tốc gặp Nguyễn văn Thắng bí thư của Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình. – Bằng đủ mọi cách, nội trong ba ngày ông bí thư phải có cho tôi những loại thuốc và vật dụng này. Bác sĩ Hưởng hí hoáy viết đầy trên một tờ giấy trắng. Nguyễn văn Thắng lo lắng – Thưa bác sĩ Bộ trưởng có hy vọng… Bác sĩ Hưởng mỉm cười – Tôi chưa thấy ai có sức chịu đựng như Khu trưởng Nguyễn Bình. Sau cuộc giải phẫu, tuy Khu trưởng có yếu đi nhưng hơi thở không hỗn loạn, cho phép tôi hy vọng rằng Khu trưởng sẽ thoát nạn. Nguyễn văn Thắng xin phép ra ngoài phòng để trao cho cán bộ thân tín “toa” của bác sĩ Hưởng – Bằng đủ mọi cách, và trong thời gian ngắn nhất, về Thành Saigon trao cho Phạm Ngọc Thảo “toa” này và bảo Thảo cung cấp đầy đủ trong một ngày, rồi cấp tốc mang về đây Phạm Ngọc Thảo, cháu ruột của Phạm văn Bạch, Chủ Tịch Ủy ban Hành Kháng Nam bộ, thời đó là chỉ huy trưởng công tác Thành. Nguyễn văn Thắng trở lại phòng vẫn thấy bác sĩ Hưởng trầm ngâm. – Xin mời bác sĩ Bộ trưởng đi nghỉ. Với lương tâm nghề nghiệp, bác sĩ Hưởng hỏi lại – Liệu có những” món đó ” trong hai ba ngày ?. – Thưa, có thể sớm hơn… – Tất cả ? – Dạ tất cả. Bác sĩ Hưởng đã đứng lên, nhưng lại ngồi xuống – Tôi hơi tò mò, nhưng sự tò mò này quan trọng về nghề nghiệp vì có hiểu được mới ngăn ngừa các phản ứng khi Khu trưởng tỉnh dậy. Tại sao Khu trưởng làm… Nguyễn văn Thắng thở dài, nhẹ lắc đầu. *** Đúng một tuần lễ sau, tin Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình còn sống làm rúng động khắp Nam Bộ. Khởi đầu, người ta có cảm tưởng rằng đó chỉ là một tin nhằm trấn an tinh thần kháng chiến. Nhưng những kẻ từ Tân Uyên chính mắt trông thấy Nguyễn Bình còn thở, chính tai còn nghe Nguyễn Bình phều phào nói, xác nhận tin trên khiến không còn ai nghi ngờ. Tại làng An Tịnh, thuộc quận Tràng Bàng, tỉnh Tây Ninh, một phiên họp tối khẩn và tối mật được triệu tập. Tham dự phiên họp này có – Huỳnh văn Trí tức Mười Trí, Tư lịnh Trung Đoàn 4 Bình Xuyên, – Sáu ” Xếch xông”, Tư lịnh Phó của Mười Trí, – Phạm Hữu Đức, Tư Lịnh Trung Đoàn 5 thối thân của Đệ Tam Sư Đoàn, – Bùi Hữu Phiệt, Tư lịnh Trung Đoàn 25 thối thân của bộ đội An Điền – cùng viên Tham Mưu trưởng Trung Đoàn, Trình Minh Thế, Chỉ huy trưởng Cao Đài kháng chiến cùng thuộc hạ. Mười Trí đưa mắt nhìn Trịnh Minh Thế và Bùi Hữu Phiệt. Cả hai đều lắc đầu lầm bầm – Không thể nào ngờ được. Phải, không ai cỏ thể ngờ được Khu trưởng Nguyễn Bình qua cuộc giải phẫu của bác sĩ Hưởng, lại còn sống. Cuốn phim dĩ vãng quay ngược trong đầu mọi người. —>Xem tiếp Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhắc lại, Nguyễn Bình theo bức thư viết tay vắn tắt có vài hàng của Hồ chí Minh đã rời bỏ Bắc Việt để vào chỉ huy cuộc kháng chiến Miền Nam vào đầu năm 1946. Lúc đó có miền Đông là lan tràn khói lửa. Nguyễn Bình kiểm điểm tình thế, và hiểu ngay rằng thực lực của các bộ đội Cộng sản hay thân Cộng tại Miền Đông nói riêng, chẳng có là bao Huỳnh văn Nghệ, Kiều Đức Thắng, Đào Sơn Tây, Tô Ký, Tám Chùa chỉ có danh có tướng mà không có quân nhất là không có vũ khí. Trái lại, các bộ đội quốc gia, hay nói nôm na theo danh từ dân chúng thời đó là “bộ đội đánh Tây” như Bình Xuyên, Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phạm Hữu Đức nguyên Tư Lệnh phó Đệ Tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Thiệp, chỉ huy. Đại Việt Quốc Dân Đảng thể hiện bằng bộ đội An Điền sau là Trung Đoàn 25 Bình Xuyên do Bùi Hữu Phiệt chỉ huy, lại quá mạnh mẽ về quân số cũng như về vũ khí. Sở dĩ các bộ đội này hùng mạnh, đầy đủ vũ khí, phần lớn do binh đội Nhựt trao cho, do chiếm đoạt được của Nhựt, của Chà Chóp và sau này của Pháp. Vũ khí của Bình Xuyên đã được Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường, khi chỉ huy ngành Công an Nam Kỳ, thời Nhật vừa đảo chánh Pháp, trao cho. Phạm Hữu Đức, tức Tư Đức là nhân viên cao cấp trong Hiến binh Nhựt, nên khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh, trao cho Đệ Tam sư đoàn nhiều súng đạn là sự dễ hiểu. Trường hợp của bộ đội An Điền lại vô cùng đặc biệt. Khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, Trung-ương Đại Việt Quốc Dân Đảng phái một số cán bộ chánh trị và quân sự đi cùng với Huỳnh văn Tiếng, Đặng Ngọc Tốt vào Nam chỉ với mục đích là bành trướng đảng, sau đó đấu tranh chánh trị. Trong “phái đoàn quân chánh Đại Việt” vào Nam thời bấy giờ có – Thiếu tướng Phạm Thiết Hùng, người Việt, đã từng là anh hùng mặt trận Trường Sa Trung Hoa Dân Quốc kháng Nhật anh vợ của tướng Phan Trọng Chinh ngày nay, – Nguyễn văn Hướng bí danh Mười Lễ em bà bác sĩ Nguyễn thị Sương, vợ của ông Hồ Vĩnh Ký nguyên Tổng thư ký Tổng thống phủ và hiện là Chủ nhiệm nhựt báo “Đời Sống Việt Nam”, – Triệu Phong tức Trần Kim Phượng hiện là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao sau nhiều năm làm Đại sứ, – Triệu Tín tức luật sư Nguyễn tấn Thành, Thực sự, lúc đó Đại Việt Quốc Dân Đảng chỉ nghĩ nhiều tới vấn đề chính trị, nhưng vấn đề chính trị tại Việt Nam lại diễn tiến ngoài sự dự liệu của Đại Việt Việt Minh lên nắm chánh quyền chứ không phải đảng phái quốc gia hay khâm sai Nguyễn văn Sâm khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh. Phiên họp tối mật tại biệt thự của bà Hồ Vĩnh Ký, với sự tham dự của – đại diện Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc Cao Đài Tây Ninh, – Lê Kim Tỵ Cao Đài Bến Tre, – Phạm Hữu Đức Việt Nam Quốc Dân Đảng, – Dương văn Giáo, – Hồ văn Ngà đại diện Khâm Sai Nguyễn văn Sâm để lật đổ Trần văn Giàu, có thể coi là Chủ tịch Ủy ban Hành Chánh Nam Bộ vì Phạm văn Bạch – Chủ tịch được chỉ định vắng mặt kiêm Ủy viên quân sự, không đi đến kết quả mong muốn vì sự lưỡng lự của nhân sĩ Cách mạng Dương văn Giáo. Ngày 28 tháng 9 năm I945, Pháp công khai tấn công “quân đội” Miền Nam. Đại Việt Quốc Dân Đảng buộc lòng phải chuyển mình qua thế quân sự. Và bộ đội An Điền, tên tại một Tổng ở quận Thủ Đức, nơi các cán bộ Đại Việt “chiêu quân”, được thành lập dưới quyền chỉ huy của một người dân địa phương tên Trần văn Quới, tức Bảy Quới, sinh viên luật khoa cũng vừa từ Bắc trở về cố hương. Chiến trận miền Đông trong thời kỳ khói lửa ngất trời thì Bảy Quới được lệnh ra Bắc. Quyền chỉ huy bộ đội An Điền trao lại cho Bùi Hữu Phiệt, một nhà cách mạng quốc gia vừa từ Côn đảo trở về, đồng chí với Đinh Khắc Thiệt, Đinh Khắc Quyết thủ lãnh của Thanh Niên Ái Quốc Đoàn với sự tham đự của cụ Hồ Nhựt Tân, Tú Quyền và bà Song Thu. Bùi Hữu Phiệt chỉ gia nhập Đại Việt khi là Tư Lệnh bộ đội An Điền. Sự lớn mạnh của bộ đội An Điền là cả một giai thoại. Lẽ cố nhiên là khi đồn trú tại An Điền, rồi sau Tăng Nhơn Phú Thủ Đức bộ đội đã có khá nhiều vũ khí “ăn chùm” những bộ đội Cộng Sản như Đào Sơn Tây, Tô Ký Thủ Dầu Một Huỳnh Tấn Chùa Một sự tình cờ đặc biệt khiến cấp lãnh đạo An Điền ngạc nhiên Một chiều Tám Sanh, Trưởng ban tình báo và liên lạc của bộ đội đưa về bộ Tổng Tham Mưu một người Nhựt cao lớn, nhưng nét mặt còn đầy vẻ thư sinh, mang theo cả năm khẩu vừa súng trường vừa súng lục, nói muốn gia nhập kháng chiến Việt Nam. Thời đó, người ta có thể giết chết cả mười người để lấy một khẩu súng thì một người tới với năm khẩu súng đáng được coi như thượng khách. Tiệc liên hoan đã qua, trong văn phòng bộ Tổng Tham Mưu chỉ còn vài người, “khách” mới nhỏ nhẹ thưa bằng tiếng Việt khá rành rẽ – Tôi có thể nói với ông chỉ huy trưởng một việc riêng. Bùi Hữu Phiệt đáp – Được. Nơi đây chỉ còn những người có đầy đủ trách nhiệm. “Khách” móc trong túi ra một bức thư dài kiểu Á Đông, nhưng phía dưới có ấn vuông lớn, dấu son và chữ ký nghiêm trang, không khác gì một sắc phong của nhà vua, hai tay cầm kính cẩn dâng lên. Bùi Hữu Phiệt, giỏi chữ Nho, giỏi chữ Nhật, mới liếc qua bức thư, đã giật mình đây là bức thư của Đại Tướng Sato, Tổng Tư Lệnh quân đội Hoàng gia Nhựt tại Đông Nam Á cho phép Trung úy Nam Tước Watanabe Hitomi được “đào ngũ” tham dự kháng chiến Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp vì đó cũng là chủ trương “Đại Đông Á” của Nhựt Hoàng. Bức thư còn nói rõ, nếu Trung úy Nam Tước Watanabe tham dự bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng là điều Đại Tướng rất mong muốn. Công việc đầu tiên của Nam Tước Watanabé Hitomi là đi chiếm hầm vũ khí của Nhựt chôn dấu ở vườn cao su Bình Thung và Bình Thắng cũng thuộc quận Thủ Đức. Trung úy NamTước Watanabé hỏi Bùi Hữu Phiệt – Ở đây “Tư Lệnh” có bao nhiêu lính và bao nhiêu súng ? Bộ bội An-Điền lúc đó còn được mệnh danh là “bộ đội Bắc bộ” vì hầu hết các cấp chỉ huy và chiến sĩ đều là người Bắc, chiến sĩ phu đồn điền cao su Pháp gốc người Bắc. Lý do lúc đó tại Saigon, Phong trào chống người Bắc dâng cao nếu người trong bộ đội hầu hết là người Bắc thì tránh khỏi cảnh đầu thú về hàng và buộc họ sống chết với kháng chiến. Bùi Hữu Phiệt không chút ngần ngại, nói rõ về nội bộ. Trung úy Nam Tước Watanabé Hitomi, về sau này mang tên bình dân”Anh Bê”, đáp ngay – Tôi sẽ đưa một số huấn luyện viên quân sự tới đây và nhất là mang nhiều súng về. Anh Bê đã giữ lời hứa. Vài ngày sau, qua sự chỉ dẫn của anh Bê, Tám Sanh đưa về bộ đội nhiều “người bạn Nhựt” có người chuyên môn về tình báo vì đã hoạt động trong Hiến binh, có người đặc trách về huấn luyện quân sự đánh trận địa chiến cũng như du kích chiến. Một công tác đặc biệt nhất của anh Bê là đã dám cùng một người bạn trẻ trong Bộ Tham Mưu đi từ Tăng Nhơn Phú qua rừng cao su Bình Thắng, hậu cần quan trọng nhứt của quân đội Nhựt tại miền Đông để xin súng. Anh Bê mặc bộ đồ bà ba đen của kháng chiến quân, thủ khẩu súng lục nơi bụng, nhưng lại đeo thanh trường kiếm, thanh kiếm gia truyền được Nhựt Hoàng ban tặng của giòng họ quý phái Watanabé. Trong binh đội Nhựt, từ Trung sĩ trở lên đã có quyền đeo gươm nhưng giá trị của thanh gươm đó lại ghi thực rõ nơi chuôi qua mầu sắc của tua kết, qua sự chạm trổ, và nhất là qua những viên ngọc bích gắn nơi đó. Chỉ là một Trung sĩ thôi, nhưng nếu đeo thanh gươm do Nhựt Hoàng đã ban tặng, thì khi gặp thượng cấp kể luôn cả vị Tướng, thì chính vị Tướng này chào trước, chào thanh gươm như trong binh đội Pháp, các cấp bậc đều phải chào “chiến sĩ bội tinh” Médaille militaire. Anh Bê tới cửa trại Bình Thắng, người lính gác nhận ngay giá trị của thanh gươm, nhưng vẫn nghi ngờ rằng chủ nhân của nó là người Việt nên hô nhiều câu tiếng Nhựt. Anh Bê xưng danh tánh và cấp bực trong quân đội Hoàng gia. Tức khắc viên Tư Lệnh doanh trại được thông báo và một cuộc đón tiếp cho đúng nghi lễ, tuy đơn sơ, dành cho một vị Nam Tước được diễn ra. Anh Bê nói rõ mục đích tôi xin súng cho kháng chiến quân. Viên Tư Lệnh doanh trại với cấp bậc Đại tá, đưa hai tay liên tiếp vò cái đầu trọc, lẩm bẩm”khó quá, khó quá”. – Tại sao khó ? – Cách đây một tuần nội vụ giải quyết quá dễ dàng. Tôi đưa cả xe lớn chở đầy súng tìm “một hai” Thanh Niên Tiền Phong để cho nhưng sau đó, được thượng lệnh, đã khai số vũ khí còn lại với Đồng Minh rồi. Nếu ngày họ giải giới… Anh Bê hiểu ngay vấn đề thực khó khăn vì đã biết quá rõ quân kỹ của binh đội, sự thất vọng hiện trên nét mặt. Vị Đại tá Tư Lệnh doanh trại như thông cảm với Nam Tước Watanabé anh Bê nói ngay – Tất cả súng đạn hiện nay đều tập trung tại kho Bình Thung, cùng trong rừng cao su, cách đây 5 cây số. Nam Tước biết nơi đó không ? – Biết. – Hôm nào Nam Tước muốn lấy hết kho súng đó ? Anh Bê mừng rỡ – Đại tá cho phép… – Không cho phép gì cả. Ngày nào Nam Tước muốn chiếm kho súng đạn đó, tôi sẽ hạ lệnh chỉ để hai người lính lại thôi. Nam Tước đưa người tới giết lính gác để đoạt súng, tôi nhắc lại giết họ để có bằng cớ nói với Đồng Minh. Anh Bê quay lại hỏi người bạn Việt đồng hành. Thấy nét lưỡng lự trên mặt người thanh niên, Đại tá Tư Lệnh doanh trại nói ngay – Tôi hiểu, ông không nỡ quyết định giết hai người lính gác nhưng ông hiểu rằng với số súng đạn đó trong tay, kháng chiến quân sẽ giúp được bao nhiêu ngàn người dân Việt khỏi bị Pháp giết? Nếu chỉ giúp được hai ngàn người khỏi bị chết đói với hai người lính Nhựt, cũng là điều quá vinh dự cho chúng tôi. Chính vì những lý luận đó mà An Điền Trung Đoàn 25 Bình Xuyên sau này nhiều súng hơn lính. Và cũng chính vì vậy mà Khu trưởng Nguyễn Bình năng lui tới với anh em trong Liên Quân Quốc Gia Kháng Chiến nhất là tìm đủ mọi cách làm thân với các thanh niên trong bộ tham mưu của An Điền. Những chàng trai trẻ này biết rõ về dĩ vãng của Nguyễn Bình, lại là cán bộ của Đại Việt Quốc Dân Đảng mà lý thuyết “dân tộc sinh tồn” trái ngược hẳn với chủ nghĩa Mác Lê, nên không ưa Khu trưởng khu 7 nếu không muốn nói rằng là thù nghịch. Trước thái độ “hiếu khách vì là chủ nhà” của Mười Trí, trước những ngăn cản của “các anh lớn” họ không dám công khai tranh luận với Nguyễn Bình. Tuy nhiên, họ cũng bàn luận riêng với nhau, xếp đặt một kế hoạch đặt tất cả “các anh lớn” trước một việc đã rồi là mưu đồ lén lút hạ sát Khu trưởng. Qua quá nhiều các cuộc gặp gỡ và thảo luận với anh em Liên Quân trong bầu không khí được coi là cởi mở và nể nang, Nguyễn Bình tin tưởng tới mức độ là báo trước các cuộc viếng thăm để anh em Liên Quân sửa soạn đón tiếp. Nguyễn văn Thắng cho hay hai hôm nữa, Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ từ Tân Uyên tới thăm anh em Liên Quân tại ấp số 8, Phú Lâm. Liên Quân hoan hỷ đón nhận tin này nhưng “mỗi giới” hoan hỉ một khác. “Giới già” như Mười Trí, Tư Đức, Tám Phiệt, Giáo Thảo nghĩ ngay tới việc hân hạnh được Khu trưởng luôn luôn viếng thăm; sẽ có những tin tức mới, sẽ có những cuộc thảo luận sôi nổi mới. “Giới trẻ” hoan hỉ vì biết được trước ngày giờ mà Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ vô tình dấn thân vào trước các họng súng của họ. Đúng ngày Nguyễn văn Thắng đã loan báo, bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 đột nhiên vắng vẻ vì khi mặt trời vừa lặn, nhiều anh em, bỏ cả bữa cơm tối, rủ nhau đi… uống cà phê. Sự việc này cũng thông thường. Sau những giờ làm việc, đêm là ngày, nếu không phải phục kích nơi đâu hay tấn công địa điểm nào, anh em trong bộ Tham Mưu có quyền đi… uống cà phê, đồng nghĩa với giao thiệp ngoài đời hay nôm na là đi “o mèo” giải quyết sinh lý. Chính Mười Trí đã nhiều lần, trên chén rượu, tuyên bố – Mấy em còn trẻ, sao “hèn” thế ? Hồi “qua” bằng tuổi các em, có đêm nào “qua” ở nhà mà ngủ yên được ? “Qua” không chịu các cuộc “lộn xộn” trong bộ đội thôi, còn ra ngoài thì thả dàn. Mười Trí đôi khi còn khuyến khích bằng cách hạ giọng thì thầm – Tụi bay, nếu có “món nào” ngon lành cho “qua”… biết miễn là đừng báo cáo cùng mẹ con Liên. Má con Liên là vợ chánh thức của Mười Trí. Bởi vậy sự vắng mặt của một số anh em “đi uống cà phê” không làm cho “các anh lớn” trên chiếu rượu chiều hôm đó thắc mắc. Trăng xanh mát đã vượt qua ngọn các vuông tre. Tham Mưu trưởng của Trung Đoàn 25 chưa tới 23 tuổi, nhưng đã vì thời thế, theo học qua các khóa quân sự của Đại Việt và của Nhựt, đưa mắt nhìn địa thế rồi vẫy bốn anh em lại gần. Họ ngồi trên mặt đất. Viên Tham Mưu trưởng dùng cây khô vẽ lên các vị trí phục kích. Viên Tham Mưu trưởng giải thích – Theo lời của Nguyễn văn Thắng loan báo, thì Nguyễn Bình sẽ tới địa điểm này trước hay sau một chút nửa đêm. Không ai đạp gai, lội ruộng để tới ấp số 8. Nguyễn Bình và Thắng nay thêm vài tên cận vệ nữa sẽ đi trên con đường mòn trước mặt chúng ta. Anh em đã nhận thấy chỗ phục kích của mình chưa ? Từng lãnh vai trò quan trọng trong bộ Tham Mưu nhưng không phải chỉ chuyên lo “cạo giấy”, và tham dự với tính cách chỉ huy nhiều trận đánh, cán bộ theo viên Tham Mưu trưởng đưa mắt nhìn quanh đã biết ngay vị trí thuận tiện trong cuộc phục kích như người ta dành chỗ tốt để… lãnh phát chẩn. Sự sốt sắng này khiến anh Tham Mưu trưởng hài lòng – Các em núp cho kỹ sau gò mối. Cần nhớ rõ điều này là trăng sáng sẽ “hất” bóng các em về phía sau dễ làm cho một kẻ tinh mắt và kinh nghiệm chiến trường nhận thấy ngay. Quan sát một lần nữa, viên Tham Mưu trưởng tiếp – Phục kích như vậy, đúng vị trí rồi. Các em chỉ nổ súng khi “họ” đã lọt vào đây viên Tham Mưu trưởng đứng vào vị trí lựa chọn rồi mới nổ súng theo kiểu đan lưới. Với những khẩu “gà cồ”trung liên Thompson, theo tiếng lóng của kháng chiến vì súng nổ nghe “cộc, cộc, cộc” như tiếng gà cồ dụ mái,”họ” không thể thoát khỏi lằn đạn của chúng ta. Trời thực cao, xanh và trăng thực sáng làm cho cảnh vật đều mang vẻ quá dịu hiền, trái hẳn với màn lưới vừa được giăng ra để đi tới máu lửa. Bầu không khí hoàn toàn yên tĩnh, tiếng gió rạt rào lay khẽ các cành cây cũng vang dội như tiếng sóng đập vào bãi biển. Theo với ánh trăng, bốn bóng đen to lớn, dài như bất tận, đã hằn in trên nền cát vàng óng ánh của đường mòn dẫn tới ấp số 8. Đã quá quen thuộc, đội phục kích nhận rõ ngay rằng hai bóng đen đi đầu là Nguyễn Bình và bí thư Nguyễn văn Thắng, những bóng đi sau không “chối cãi” được vai trò vệ sĩ của mình qua khẩu súng trường cao lêu khêu đeo trên vai. Mỗi bước chân tiến của “họ” đập mạnh trên đường mòn hòa nhịp với những kẻ phục kích. Những “con mồi” một lúc một tới gần, những bàn tay của những kẻ phục kích mỗi lúc một thêm siết chặt báng súng. Nhưng đột nhiên, có tiếng nói lào xào, có tiếng chân từ phía sau những kẻ phục kích vọng tới. Như vây phải chăng đã có “nội thù” báo cho Nguyễn Bình biết trước cuộc phục kích này ? Như vậy, phải chăng những kẻ phục kích lại lọt vào ổ phục kích của Nguyễn Bình? Chỉ huy trưởng cuộc hạ sát Nguyễn Bình trên đường vào ấp số 8 vô cùng hồi hộp trước thế “lưỡng đầu thọ địch”. Bỗng tiếng nói quen thuộc vang lên – Chắc chắn chỉ một, hai phút nữa Khu trưởng sẽ tới đây. Có tiếng đáp lại – Dạ Khu trưởng đã tới nơi đầu đường rồi. Những bóng đen đứng khựng lại như ngạc nhiên trước sự xuất hiện bất thần của một tiểu đội võ trang. Mười Trí cười lớn, tiến mau lại – Chúng tôi đi rước Khu trưởng. Sao Khu trưởng tới trễ thế, đi đường gặp khó khăn gì không? Nguyễn Bình cũng tiến mau lại, nắm lấy tay Mười Trí – Chúng tôi đi đường bình yên. Sao lần này lại phiền anh Mười… – Có gì đâu mà Khu trưởng để tâm. Tôi vừa nhận được tin liên lạc cho biết quãng đường này rất có thể không yên nên phải phòng xa. Mười Trí lại cười – Phòng xa vẫn hơn. Rủi có một sự gì đáng tiếc xảy ra ngay trên mảnh đất chúng tôi kiểm soát thì thực là mang tiếng… Nguyễn Bình đi theo Mười Trí về ấp số 8, cười nói luôn miệng. Đoàn người đi qua “tử địa” mà đám quân phục kích không dám nổ súng. Chờ tới khuya, viên Tham Mưu trưởng mới hạ lệnh cho anh em rút lui. Câu hỏi “tại sao Mười Trí đích thân đi đón Nguyễn Bình” quay cuồng trong đầu ? Lần này Nguyễn Bình chỉ ở chơi có một ngày rồi lại hấp tấp trở về khu bộ, nhưng chắc chắn trong 24 giờ qua đã nói nhiều chuyện quan trọng với Mười Trí nên Mười Trí dầu bản chất mộc mạc, ưa vui đùa cũng không dấu được sự lo âu loé trên khoé mắt. Nguyễn Bình đã ra đi rồi, Mười Trí mới cho gọi vịTham Mưu trưởng Trung Đoàn 25 tới ngồi riêng trong phòng đàm luận. Mười Trí nói ngay – Tại sao em lại hành động như vậy ? Vị Tham Mưu trưởng… ngây thơ – Thưa anh Mười…. hành động gì ạ? Mười Trí nghiêm giọng – Nếu “qua” không phát giác kịp thì bây giờ biết bao nhiêu chuyện đã xẩy ra. Như không muốn cho đàn em đóng vai trò “ngớ ngẩn”, Mười Trí tiếp – Tối hôm đó, “qua” có chuyện phải cần tới mấy em, cho mời thì em cùng bốn người nữa, tuyền là “thứ dữ” trong bộ Tham Mưu đều đi khỏi. Tối không có công tác định trước, các em rủ nhau “đi uống cà phê” tiếng lóng trong kháng chiến đồng nghĩa với đi o mèo cũng là sự thông thường. Công việc “qua” muốn nhờ các em quá quan trọng nên phái liên lạc đi kiếm các em ở những nơi “thông thường” nhưng mọi người đều quả quyết từ chập tối không thấy một em nào lảng vảng tới đó. “Qua” chợt nhớ rằng đêm đó Khu trưởng tới thăm như đã báo trước. Điều này các em cũng biết. Các em lại không ưa gì Nguyễn Bình vì Nguyễn Bình, dầu là khách đã công khai chèn ép các em ngay nơi đây. Nghi ngờ thoáng trong đầu, qua cho kiểm soát lại vũ khí thì em Chỉ huy trưởng Trung đội Thompson phòng thủ bộ Tham Mưu cho biết, các em, ngoài súng lục vẫn có, mỗi người còn lấy ở Trung đội này một khẩu “Gà Cồ” đem theo nữa. Như vậy, các em đi đâu, nếu không phải là … ra trận ? Vị Tham Mưu trưởng nín lặng, công nhận tài nhận xét rất đúng và hành động cấp thời hữu hiệu của Mười Trí. Y hơi ngạc nhiên thấy giọng trách móc của Mười Trí quá hời hợt, khác hẳn với ngày thường nặng nề và đôi khi tục tằn. Dường như Mười Trí hối tiếc một việc gì ? Vị Tham Mưu trưởng dọ dẫm – Nếu Nguyễn Bình bị bắn hạ đêm đó thì đã giải quyết được cho anh Mười nhiều sự khó khăn. Mười Trí thở dài không đáp. Vị Tham Mưu trưởng hỏi tiếp – Nguyễn Bình đã đề nghị với anh Mười những việc gì ? Một lần nữa Mười Trí nhẹ thở dài nhưng cũng đáp – Nguyễn Bình không đề nghị gì cả mà chỉ thông báo cho “qua” biết rằng thằng Bảy Bảy Viễn đã thoả thuận với y, đưa thằng Tư Tư Tỵ từ Bình Xuyên về đây làm Tư Lệnh phó Trung Đoàn 25. Nguyễn Bình nhờ “qua” “giải thích” cho anh Tám Phiệt rõ để anh Tám nhận lời. – Nghĩa là Nguyễn Bình muốn đưa anh Tư tới kiểm soát, kiềm chế anh Phiệt? Mười Trí gật đầu – Nguyễn Bình giải thích rằng thằng Tư sau trận đánh vừa qua ở Bến Tre, lực lượng tiêu hao quá nhiều. Không còn đủ sức tung hoành nữa, cần dựa vào bộ đội hùng hậu nào đó để…. hồi sinh, bổ sung lực lượng nhưng “qua” hiểu, thâm ý của Nguyễn Bình là đưa thằng Tư kiềm chế anh Phiệt, hay hơn nữa tước đoạt quyền của anh Phiệt. – Anh Mười tính sao ? Mười Trí trầm ngâm vài giây – Thực ra, đối với thằng Tư không đáng ngại. Vài hôm nữa, nó sẽ tới đây với một tiểu đội, với chứng minh thư của Khu trưởng “phong” làm Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25. Với lực lượng đó, nó khó mà làm gì được anh Phiệt. Hơn nữa dầu sao nó cũng là một trong mười con Rồng Xanh của Bình Xuyên, chắc không hành động xấu xa. Mà dầu nó có tâm địa nào đi chăng nữa, thì còn “qua” đây. “Qua” nhất định không để cho nó toại ý. Em về thưa rõ với anh Phiệt như vậy. Tuy nhiên… – Thưa anh Mười còn điều gì nữa ? – Tuy nhiên, qua nghĩ rằng đây là cuộc thử thách, dọ dẫm đầu tiên của Nguyễn Bình đối với Trung Đoàn 25, được đằng chân, chắc chắn Nguyễn Bình sẽ lấn đằng đầu, gây thêm nhiều khó khăn nữa cho anh Phiệt. Cần phải đề phòng kỹ những gì sẽ xẩy ra. Đúng như lời Mười Trí tiên đoán, Tư Tỵ danh chánh ngôn thuận tới lãnh chức Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25 và được từ Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt cùng các anh em khác vui vẻ đón tiếp. Tư Tỵ về với Trung Đoàn 25 có tánh cách “tỵ nạn” hơn là tìm cách đoạt quyền hành. Cả nửa tháng trôi qua, Tư Tỵ không đi tới các trại đồn binh để rõ thực lực Trung Đoàn ra sao, nhưng không phải vì vậy mà làm cho anh em Trung Đoàn yên lòng. Trong thời gian này, Nguyễn Bình có tới thăm Trung Đoàn 25 một lần nữa. Nguyễn Bình hài lòng vì mọi việc đều êm đẹp như ý mình đã xếp đặt. Cũng trong thời gian đó Dương văn Hà tức Nam Hà, Tư Lệnh Bình Xuyên sau khi người anh ruột là Dương văn Dương tức Ba Dương bị tử nạn tại Bến Tre, cùng Lê văn Viễn tức Bảy Viễn Khu phó Khu 7 kiêm Tư Lệnh phó Bình Xuyên tới chúc mừng Tư Tỵ. Năm Hà cũng bị Nguyễn Bình đặt vào trong tình thế khó khăn. Với danh nghĩa là Tư Lệnh Bình Xuyên nhưng quyền hành tại Nam bộ lại thua Tư Lệnh phó Bảy Viễn vì Bảy Viễn là Khu phó khu 7. Như vậy, trên danh nghĩa chính Bảy Viễn chỉ huy. Năm Hà quá hiền lành, thực quyền nơi Bình Xuyên đều nằm trong tay Bảy Viễn. Bảy Viễn chịu ảnh hưởng Nguyễn Bình, đi cặp kè với Nguyễn Bình, Bình Xuyên chắc chắn sẽ có ngày tan vỡ, lâm nguy. Bởi vậy, lần này, cuộc mưu sát Nguyễn Bình, vẫn do anh em trẻ tuổi trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 chủ trương, gần như mặc nhiên được Mười Trí tán thành. Cuộc phục kích lần này được tổ chức kỹ lưỡng …nhưng trên con đường mòn từ Long An về Phú Lâm… Trời mưa rả rích từ chập tối. Bầu trời như quá thấp, có thể đưa khẩu súng lên “quơ” cũng đụng mây đen bay là tà trên khoảng đồng trống. Sấm nổ rền càng làm cho bầu không khí của cuộc phục kích thêm thuận tiện. Người chỉ huy đảo mắt nhìn quanh, trước khi chỉ chỗ cho anh em phục kích, hạ lệnh – Phải bắn chết hết những người đi cùng Nguyễn Bình tới đây. Hừ, quanh chúng ta có tới bốn cái cái giếng cạn, đủ làm “mồ yên mả đẹp” cho nhiều người. Khi “họ” đã nằm xuống, giếng cạn sẽ “đón” họ ; vài tảng đá, vài mô đất đắp theo, như vậy đã kín “đẹp” có thể vài năm nữa hay vài thế kỷ nữa cũng không ai phát giác ra họ. Trời càng về khuya, mưa càng nặng hạt. Đoàn người phục kích vẫn không sờn lòng, vẫn không cả nhúc nhích mặc cho gió tạt mưa vào mặt lạnh ngắt và đau buốt. Họ chỉ chú ý tới việc giữ sao cho súng đạn được khô ráo. Một tia chớp loé lên. Họ giật bắn mình vì cách họ không còn xa, bốn bóng đen, đội nón lá đương xăm xăm rảo bước. Lúc này họ lắng tai nghe. Thính giác, đối với họ, cũng có thể coi như “cái thước” đo đúng khoảng cách giữa tầm súng của họ với những người đương đi. Một tiếng hô át cả mưa gió – Bắn Và những tràng trung liên nổ liên tiếp át cả tiếng sấm. Có tiếng hét trong đau đớn, tuyệt vọng – Tại sao… tôi… Giọng hét quá xa lạ giữa lằn chớp nhoáng quá dài. – Lầm rồi, không phải… – Súng hướng về phía trước. Đèn bấm chiếu… Bốn người mặc bà ba đen quằn quại sình lầy. Những tiếng rên yếu dần, những làn hơi thở mỗi lúc một gấp rút chứng tỏ họ sắp trút linh hồn. Những chiếc nón lá đã văng ra, lật ngửa, đón mưa khuya đương đổ xuống gõ thành nhịp trầm buồn. Ánh đèn bấm chiếu trên mặt những kẻ hấp hối. – Không có Nguyễn Bình… – Không có cả Nguyễn văn Thắng… – Họ là ai? – Lục xét trong người họ coi. Họ là ai ? Chứng minh thư trong người họ và một bức thư trong túi một người cho biết họ chỉ là nhân viên liên lạc khu bộ và địa phương. Địa phương dẫn đường cho hai liên lạc khu bộ, mang bức thư của Nguyễn Bình tới Mười Trí xin lỗi đã thất hứa vì công việc bắt buộc phải ở lại Long An trong hai ngày nữa nên không thể tới thăm đúng hẹn. Ngày mai, Nguyễn văn Thắng sẽ tới giải thích và xin lỗi. Giọng nói thất vọng nổi lên – Bây giờ tính sao anh ? Người chỉ huy cuộc phục kích lưỡng lự. Hai vấn đề cần được giải quyết gấp trả lại giấy tờ cho những xác chết để nằm đó, nội trong ngày mai sẽ có người phát giác. Dư luận sẽ cho rằng họ bị quân Pháp hay “pạc ti dăng” người Việt đi lính cho Pháp tức thân binh phục kích bắn chết. Nhưng điều này hơi khó tin vì thông thường Pháp và “pạc ti dăng” không bao giờ, hay chỉ trong trường hợp đặc biệt mới hành quân ban đêm. Nếu bỏ họ xuống giếng lấp đá, đất lên thì cũng chỉ nội trong ngày mai tin những liên lạc khu bộ và địa phương không tới ấp số 8 cũng được Nguyễn văn Thắng biết và loan truyền đi khắp nơi. Công an Việt Minh bắt buộc phải mở cuộc điều tra và tìm ra cái xác chết nằm dưới đáy giếng cũng chẳng khó khăn gi. Giải pháp thứ ba bỏ “họ” xuống giếng rồi về cho Mười Trí hay rằng đã nhận được thư của Nguyễn Bình, các liên lạc viên trở về khu bộ địa phương. Cũng không ổn vì trong thư Nguyễn Bình còn nói rõ “phiền anh Mười “nuôi cơm” các em liên lạc hai ngày vì tôi còn cần gấp tới họ”. Điều này chắc chắn Nguyễn Bình hay Nguyễn văn Thắng đã nói cho các liên lạc viên rõ thì bất luận lý do gì họ cũng không dám rời Phú Lâm trước khi Nguyễn Bình tới. Chỉ còn một phương pháp “kéo dài thời gian”. Người chỉ huy cuộc phục kích hạ lệnh – Bỏ tất cả xuống giếng cạn, lấp đất lên. Gần sáng hôm đó, đoàn người phục kích mới trở về bộ đội. Họ lăn ra ngủ và cho tới khi Nguyễn văn Thắng tới thăm họ cững không báo cáo nội vụ tới Mười Trí. Tin liên lạc không đưa thư của Nguyễn Bính tới Mười Trí nổ như tiếng sét giữa bầu trời quang đãng. Ai cũng hiểu rằng sự việc này bao trùm một bí mật vô cùng quan trọng vì không bao giờ các liên lạc viên, nhất là liên lạc khu bộ, những người được lựa chọn kỹ lưỡng đóng vai trò phối hợp hành động của Nam Bộ lại không làm tròn nhiệm vụ, trừ trường hợp bị bắt hay giết ở dọc đường. Nguyễn văn Thắng, sau ít lời xin lỗi thông thường, tức khắc xin từ biệt Mười Trí… Tin khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình bị ám sát hụt đương lan ra mau lẹ và mãnh liệt như ngọn lửa đã châm trên ngòi của các thùng thuốc súng. Nguyễn Bình, sau những vụ đụng độ với Sư đoàn Sao Trắng tại Đông Hưng và Móng Cáy Bắc Việt sau sự bắt buộc phải thay đổi chánh sách đi tới liên hiệp với các đảng phái quốc gia, của chánh phủ Hồ chí Minh, đã phải đóng vai trò “vô danh tiểu tốt” trong phái đoàn Bắc bộ, do Lê Duẫn chỉ huy để vào Nam. Tuy nhiên khi tới mảnh đất của Bến Nghé rồi, thì tên “vô danh tiểu tốt Nguyễn Bình” thoát xác, quyền hạn còn nhiều hơn cả Lê Duẩn. Sở dĩ có sự “lột xác” bất ngờ này là vì Hồ chí Minh muốn tránh cho Nguyễn Bình tất cả những sự bất trắc có thể xảy ra ở dọc đường do hậu quả của cuộc đụng chạm với Sư đoàn quốc gia Sao Trắng. Thời bấy giờ tuy trên danh nghĩa là Việt Minh nắm chánh quyền “toàn cõi Việt Nam độc lập” nhưng trên thực tế thì trái hẳn lại bất luận Quốc gia hay Cộng sản có vũ khí trong tay vẫn hùng cứ được một phương. Ông Hồ chí Minh đã biết rõ hơn ai hết về tình hình tại Nam Bộ. Trần văn Giàu, Ủy viên quân sự Nam bộ, ra Bắc ngay ngày đầu Miền Nam khói lửa, diễn thuyết nhiều về “Nam bộ oai dũng kháng chiến” nhưng những lời nói không che khuất được hết sự thực quá phức tạp tại Miền Nam. Trước nhà hát Tây Hà Nội, Trần văn Giàu đương diễn thuyết và tự coi mình như một “anh hùng kháng chiến Miền Nam” thì một trái lựu đạn quẵng lên dài. Kế đó Tư Thiên tức Maurice Thiên, một trong 10 con “Rồng Xanh” của Bình Xuyên và một vệ sĩ nhảy lên diễn đàn. Tư Thiên điểm mặt Trần văn Giàu – Anh kháng chiến ngày nào ở Nam bộ ? Anh bắn Tây phát nào ở Nam bộ, hãy nói rõ tôi nghe ? Thời đó, Bình Xuyên kháng chiến được Hà Nội thổi phồng và truyền tụng trong dân chúng. Tư Thiên lại là trưởng phái đoàn của Bình Xuyên kháng chiến từ Nam bộ ra Bắc nên tiếng nói của Tư Thiên rất giá trị Trần văn Giàu chịu thua Tư Thiên trước quần chúng. Chánh quyền Hà Nội dư biết rằng nói tới Nam Bộ kháng chiến chỉ để kích thích tinh thần người dân và thực tình nơi đây ra sao đều biết rõ. Bởi vậy Nguyễn Bình “thoát xác” khi tới miền Nam chỉ qua bức thư ngắn ngủi của ông Hồ chí Minh – “Chú Bình, Nam Bộ đương là nơi để anh hùng tạo thời thế, tôi giao Nam bộ cho chú”. —>Xem tiếp Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nguyễn Bình trước khi vâng lệnh ông Hồ chí Minh vào Nam bộ dĩ nhiên đã được cho biết rõ về tình hình nơi đây. Về quân sự, các giáo phái, các đoàn thể quốc gia vượt mức các tổ chức của Việt Minh vừa mới được vội vàng khai sanh. Hai giáo phái địa phương hùng mạnh là Cao Đài và Hòa Hảo qua chánh sách giai đoạn đều thân Nhật chống Pháp nên được võ trang khá hùng hậu khi Nhựt đầu hàng. Đảng phái thì có Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phạm Hữu Đức chỉ huy sau khi Tư Lệnh Đệ Tam sư đoàn Nguyễn Hòa Thiệp về thành. Phạm Hữu Đức là con của một đảng viên VNQDĐ Miền Nam bị lưu đày và bỏ thây tại Côn Đảo. Phạm Hữu Đức, đã từng là nhân viên cao cấp trong Hiến Binh Nhựt, nuôi Trần văn Giàu trong khi Hiến binh Nhựt lùng bắt Giàu. Một sự tình cờ “đặc biệt” đã đưa bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng do Bùi Hữu Phiệt làm Chỉ huy trưởng lên hàng bộ đội hùng mạnh nhất của Kháng chiến Nam bộ thời bấy giờ. Bình Xuyên có thể nói là “Một đảng chính trị” vì “con Rồng Xanh số 1” là Dương văn Dương tức Ba Dương, còn lưỡng lự trước sự lựa chọn con đường chính trị của mình. Ba Dương là con người “độc đáo” tại Miền Nam. Thủ lãnh của Bình Xuyên, đám dân “trốn xâu lậu thuế”, “anh chị đứng bến xe đò hay tầu thủy” chống đối công khai nhà cầm quyền Pháp, người ta hình dung Ba Dương ít lắm cũng cao lớn hơn Mười Trí, nghĩa là ít nhất cao quá 1 thước 75 phân, mặt có “cô hồn” nói năng tục tĩu, và sẵn sàng rút dao tu ra để “giải quyết” mọi chuyện. Ba Dương phải mặc bà ba đen bằng lãnh, đội nón nỉ, quàng khăn lông nơi cổ cho đúng điệu anh chị. Sự thực trái hẳn lại. Ba Dương không cao quá 1 thước 55 phân , nhỏ thó, trắng trẻo, luôn luôn “khăn đóng áo dài đen” như một ông đồ nho. Ba Dương là một ông đồ nho vì theo gia thế học quá nhiều về “tam tự ngũ kinh”, một học vấn mà người Pháp cấm ngặt trong thời đô hộ thuộc địa Nam Kỳ. Thêm một mầu sắc đặc biệt cho Bình Xuyên là Ba Dương chưa hề bao giờ là “anh chị” đứng bến hay “đả hồ” gác sòng bạc. Trái lại Ba Dương là triệu phú chủ nhân ông hai nhà máy xay lúa và một nhà máy dệt bao bố tại Chợ Lớn. Tư Thiên, một trong 10 Rồng Xanh của Bình Xuyên, cũng có nếp sống vương giả như Ba Dương. Tư Thiên, “dân Tây” vì vợ đầm, chỉ “khoái” đua xe đạp, nhưng cũng là chủ nhân ông của hai nhà máy xay lúa tại Chợ Lớn kiêm chủ cả hai “lô” ngựa đua nổi tiếng cho tới thời kỳ kháng chiến. Bình Xuyên phức tạp như vậy. Bình Xuyên càng phức tạp hơn nữa vì là người chỉ huỵ tất cả công nhân tại kho 5 rồi sau đó công nhân đóng tàu cây cho Nhựt, Ba Dương giao thiệp rất thân mật với Nguyễn văn Số, cán bộ cao cấp của Đệ Tứ Quốc Tế có lẽ chỉ vì vấn đề lao động. Ba Dương, trước ngày tàn của Nhựt luôn luôn gặp gỡ Hồ Vĩnh Ký, giám đốc công an Nam Kỳ thời Nhựt và nhất là Lâm Ngọc Đường, Phó giám đốc, những người quốc gia. Như vậy, Ba Dương không thể là con người của Đệ Tam Quốc Tế, nghĩa là thiên hẳn về quốc gia cực đoan như Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường hay Đệ Tứ Quốc Tế theo Nguyễn văn Số. Một trong hai quyết định này đều hoàn toàn bất lọi cho Đệ Tam Quốc Tế. Giáo phái, đảng phái là như vậy. Còn về nhân tâm thì sao? Người dân miền Nam trực tính, bộc lộ rõ ràng rằng “ai đánh Tây thì ủng hộ”. Trước những yếu tố đó, Nguyễn Bình con người cầm trong tay bức thư vạn năng của Hồ chí Minh nghĩ sao ? Những tháng đầu năm 1946 không ai có thể ghi nhận được con đường mà Nguyễn Bình muốn “thênh thang tại Nam Bộ”. Tuy nhiên hành động dưới đây của Nguyễn Bình đã diễn ra quá công khai khiến mọi người sửng sốt cố tìm hiểu Khu trưởng khu 7 là quốc gia thực sự hay âm mưu gì dưới “cái vỏ quốc gia”. Khởi đầu “nhận chức”, Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình đơn thương độc mã tới thăm các lực lượng quân sự đối lập với Cộng sản quốc gia hay Đệ Tứ Quốc Tế đã cùng nhau mặc nhiên cố kết. Cộng sản cũng như Quốc Gia kháng chiến đều dễ dàng hiểu rõ hành động cầu thân này của Nguyễn Bình, nghĩa là có một âm mưu mà chưa tiết lộ. Nhưng “đòn thứ hai” của Nguyễn Bình lại vô cùng kỳ dị gây hoang mang cho cả phía Quốc Gia và Cộng sản. Qua một thông cáo chánh thức của Ủy ban Hành kháng Nam bộ, Nguyễn Bình hạ lệnh cho toàn cõi Miền Nam phải tổ chức lễ truy điệu nhà cách mạng Nguyễn Thái Học. Đối với người dân quê Nam bộ, cái tên Nguyễn Thái Học quả thực là xa xôi, không quen thuộc bằng Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh Tuy nhiên với guồng máy tuyên truyền được huy động tới mức tối đa, người dân tại các vùng hẻo lánh cũng biết rằng Nguyễn Thái Học là một nhà cách mạng, một anh hùng dân tộc. Để đập thẳng vào tâm lý quần chúng còn đương bồng bột với cuộc kháng chiến, các cán bộ tuyên truyền chỉ cần bày ra vài sự việc Nguyễn Thái Học đã đánh Tây nhiều năm, đã giết được nhiều giặc Pháp nhưng sau cùng thất thí bị Pháp đưa lên máy chém tại Yên Báy. Với thành tích đánh Tây giết Pháp, như vậy đủ rồi. Hơn nữa lại nhận được chỉ thị của Nguyễn Bình, từ Tổng hành dinh Nam bộ tới trụ sở của Ủy ban hành chánh xã xa xôi, đâu đâu cũng tổ chức “ngày giỗ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học”. Điều đáng khen Nguyễn Bình là mặc dầu biết rõ là nếu đúng lời ước hẹn từ Tân An về Phú Lâm trong ngày hôm đó, thì chính bản thân mình sẽ bị bắn và liệng xuống giếng cạn chứ không phải là 4 liên lạc viên, nhưng Nguyễn Bình cũng đích thân tới ấp số 4 tham dự lễ truy điệu Nguyễn Thái Học do Phạm Hữu Đức, nhân danh Liên Quân Bình Xuyên tổ chức. Liên Quân Bình Xuyên dành danh dự này cho Phạm Hữu Đức vì Phạm Hữu Đức “cha truyền con nối” là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nguyễn Bình tới dự lễ truy điệu cũng vì lẽ đó. Hơn nữa Nguyễn Bình, mặc dầu là Khu trưởng khu 7, Phạm Hữu Đức chỉ là Tư Lệnh Trung Đoàn 5, cũng dành tất cả danh dự người “chủ tế” cho Tư Đức. Nguyễn Bình không đọc diễn văn, thúc đẩy từ Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt hành lễ trước rồi mới niệm hương trước bàn thờ của Nguyễn Thái Học. Hành động này của Nguyễn Bình khiến Phạm Hữu Đức khóc ròng, Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt, và những anh em trẻ trong bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 thắc mắc tự hỏi; “phải chăng Nguyễn Bình, chiếc lá Nguyễn Bình, đã trở về cội ?” Chính sự “phân vân” này của những nhà cách mạng và kháng chiến Quốc Gia, thêm một lần nữa, đã làm cho Miền Nam Việt Nam bao trùm khói lửa cho tới ngày nay ngày mà độc giả đương đọc loạt bài này. Hãy giở ngược lại những trang lịch sử đấu tranh. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhựt đảo chính Pháp. Tại sao lại có đanh từ “đảo chánh” ? Từ năm 1940 viện cớ “mượn đường” đánh Hoa Nam Miền Nam Trung Hoa Dân Quốc quân Nhựt đổ bộ tại Cầu Niệm, chiếc cầu nối liền thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Rồi từ đó, Nhựt đưa quân lên phía bắc Bắc Việt chiếm Cao Bằng Lạng Sơn, đưa quân xuống Miền Nam, lan tràn khắp Đông Dương tiến đánh Miến Điện, Thái Lan Tuy nhiên, về quyền hành chánh tại Đông Dương, Nhựt vẫn để cho Pháp nắm giữ mặc dầu thực quyền trong tay binh đội Nhựt. Khi Nhựt Hoàng hạ lệnh cho quân đội đầu hàng Đồng Minh, riêng tại miền Nam, các đoàn thể thân Nhựt, như Cao Đài, Hòa Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh Niên Ái Quốc Đoàn có thể thừa thế nắm chánh quyền nhất là thời kỳ đó, miền Nam đã có một chánh quyền Quốc Gia do ông Nguyễn văn Sâm làm Khâm Sai. Trần văn Giàu, Nguyễn văn Tạo, Dương Bạch Mai, đại diện cho Việt Minh lăm le muốn nắm chánh quyền nhưng còn e dè các đoàn thể Quốc Gia. Những cuộc họp báo Quốc Cộng kẻo dài cả tháng tại Tòa Đô Chánh Saigon. Những cuộc họp riêng giữa các đoàn thể Quốc Gia như Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Bến Tre, Hòa Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, diễn ra tại biệt thự của bà Nguyễn thị Sương, vợ ông Hồ Vĩnh Ký đương nắm Công an Nam bộ, và đặt dưới quyền của nhà cách mạng lão thành vừa từ Thái Lan về Saigon ông Dương văn Giáo. Các anh em Quốc Gia muốn “một mẻ lưới” bắt hết các đại diện Việt Minh. Ông Dương văn Giáo lưỡng lự cho tới ngày 2-9-45, Việt Minh trình cùng quốc dân thành phần của Ủy ban Hành Chánh Nam bộ gồm toàn các nhân vật Việt Minh hay thân Việt Minh. Ông Dương văn Giáo phải bỏ Saigon lên đường qua Thái Lan nhưng bị chặn giết ở dọc đường. Đó là một cơ hội mà các đoàn thể Quốc Gia vì không dám dứt khoát nên đã bỏ mất chánh quyền tại Miền Nam. Qua lễ truy điệu Nguyễn Thái Học, các đoàn thể Quốc Gia kháng chiến, một lần nữa, lại không có tư tưởng dứt khoát với Nguyễn Bình. Và cũng nhờ lễ truy điệu được tổ chức rầm rộ khắp Nam bộ, Nguyễn Bình đã trấn an được dư luận quần chúng, đã đạt được cảm tình của các đoàn thể Quốc Gia kháng chiến. Nhưng đó chỉ là kế hoãn binh để Nguyễn Bình đủ thì giờ sắp xếp lại nội bộ và thi hành, một vài độc kế. Qua nhiều lần tiếp xúc với Dương văn Dương tức Ba Dương thủ lãnh của Bình Xuyên, Nguyễn Bình hiểu ngay rằng không thể nào mua chuộc, thuyết phục hay áp lực được con người đó. Mua chuộc bằng tiền bạc ? Ba Dương tuy mang danh là Bình Xuyên, nhưng lại là chủ hai nhà máy xay lúa và một nhà máy dệt bao bố tại Chợ Lớn, nay bỏ tất cả để đi kháng chiến “số tiền mua cho được Ba Dương” quá cao, chắc chắn Nguyễn Bình không thể có. Thuyết phục bằng chủ nghĩa Cộng Sản? Ba Dương là con nhà gia giáo, rất giỏi chữ nho giao thiệp nhiều với các cán bộ Đệ Tứ Quốc Tế như Nguyễn văn Số lại trong những ngày đầu của “Việt Nam độc lập” liên lạc chặt chẽ với Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường thì tinh thần Quốc Gia và chống Cộng đã quá bộc lộ. Áp lực một vị thủ lãnh Bình Xuyên ? Lúc đó Nguyễn Bình mặc dầu là Khu trưởng khu 7 cũng không đủ lực lượng quân sự để thi hành ý muốn. Chỉ còn một cách duy nhất là dùng những người trong hàng ngũ Bình Xuyên nhưng không phải “gốc để hạ sát Ba Dương. Và tin Ba Dương bị phi cơ Pháp bắn chết dưới chân một gốc cây rơm tại Bến Tre làm cho chiến sĩ Bình Xuyên đau đớn nhưng gây một mối nghi ngờ rất lớn trong đầu óc anh em trong Liên Quân Bình Xuyên. Sau cuộc điều tra cấp tốc và tại chỗ anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 biết rõ rằng Ba Dương bị ám sát. Ngày tang tóc đó, quả thực có phi cơ Pháp tới bắn phá một làng tại Bến Tre, nơi quân của Ba Dương và Từ văn Ri tức Henri Từ, Trung Đoàn trưởng Trung Đoàn 2 Bình Xuyên trú đóng. Sau hai đợt bắn phá bằng đại liên, chiến đấu cơ “Spicfire” của Pháp bỏ đi. Ba Dương vẫn còn sống. Ba Dương chỉ cần lẩn quanh cây rơm cũng tránh được các loạt đạn đại liên của phi cơ Pháp một cách dễ dàng vì nếu phi cơ từ hướng Đông tới, Ba Dương chỉ cần nằm phía Tây nơi gốc cây rơm hay ngược lại. Sau các chiến đấu cơ, hai thám thính cơ L19 thường được gọi nôm na là “máy bay bà già” và tiếng Bình Xuyên gọi “giường cử” xuất hiện. Ngoài bổn phận thám thính, “bà già” đôi khi cũng gây khó khăn cho kháng chiến quân bằng cách liệng lựu đạn xuống hay bắn bằng Thompson. Hôm đó, thám thính cơ của Pháp cũng bắn nhiều loạt Thompson xuống. Và theo “tin chánh thức” thì Ba Dương bị trúng đạn Thompson mà bỏ mình. Ba Dương nằm sấp, hai tay vươn về phía trước, chân phải gập dưới bụng, chân trái duỗi dài. Như vậy chứng tỏ rằng Ba Dương chạy từ cây rơm này qua mép nơi cây rơm khác thì bị trúng đạn. Từ văn Ri xác nhận rằng lúc đó y núp gần đó, và Ba Dương trúng đạn Thompson khi vừa chạy tới gần chân cây rơm lớn và cao ngất. Chỉ cần coi vết thương anh em trong bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 cũng rõ Từ văn Ri nói dối, nhưng không dám tiết lộ hết sự thực lúc bấy giờ vì chỉ có vài người được phái tới thăm Ba Dương trước ngày thủ lãnh Bình Xuyên lâm nạn. Lúc đó, Từ văn Ri đang chăm chú quan sát sự nhận xét của anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25. . Lúc đó, Henri Từ chỉ huy cả Trung Đoàn 3,có nghĩa là nếu cần sẽ giết người để bịt miệng. Xem xét vết thương của Ba Dương xong, anh em công nhận những lời của Henri Từ “phải thủ lãnh Bình Xuyên” bị đạn Thompson từ trên “máy bay bà già” bắn trúng. Nhưng sự thực trái hẳn lại Ba Dương bị một viên đạn bắn từ sau gáy trở lên đỉnh đầu nghĩa là Ba Dương bị kẻ nằm ở dưới đất hướng mũi súng lên bắn lén vì nếu từ phi cơ bắn xuống thì trái hẳn lại đạn phải từ đỉnh đầu trở ra phía sau. Anh em còn quả quyết hơn nữa Henri Từ là thủ phạm vì chỉ sau ít ngày Ba Dương từ trần, Từ văn Ri dẫn Trung Đoàn 2 rời khỏi hàng ngũ Bình Xuyên về với Nguyễn Bình. Sau cái chết của Ba Dương và sự rời bỏ hàng ngũ của Henri Từ, Bình Xuyên bắt đầu gặp thêm quá nhiều khó khăn. Và cũng sau cái chết đau thương của Ba Dương, Nguyễn Bình viện cớ quân của Tư Tỵ tan nát tại Bến Tre nên mới “gởi” Tư Tỵ tới nằm vùng tại Trung Đoàn 25 Bình Xuyên để kiểm soát và kiềm chế Bùi Hữu Phiệt. Trăng đêm đó sáng quá. Trời xanh mát cao như vô cùng tận; gió mát của Đồng Tháp Mười thổi vi vút khắp “đảo” Quéo Ba, nơi Trung Đoàn 25 và Trung Đoàn 5 có bổn phận sửa soạn, tiếp đón từ Đức Hùynh Giáo chủ, Tư Lệnh Cao Đài kháng chiến, Trình Minh Thế, Tư Lệnh Sư đoàn 5, đảng viên cao cấp của Đệ Tứ Quốc Tế. Nguyễn Thành Long, vừa được “phái đoàn” của Trung Đoàn 25 rước về, đại diện Tân Dân Chủ Đảng về họp đại hội. Mười Trí, từ ấp số 8 Phú Lâm tới Sáu “Xếch Xông” trước các “phái đoàn khách”. Đối cảnh, Mười Trí hạ lệnh cho “hỏa đầu quân” đặt tiệc rượu thông thường nghĩa là trải chiếu dài trên sàn gạch hay đất nện, để cùng tất cả các anh em cấp bậc chỉ huy đối ẩm. Mười Trí có biệt tài về những cuộc tổ chức ăn nhậu. Sau một cuộc hành quân mệt nhọc ngày, bóng đêm vừa tỏa xuống bộ đội được lệnh phải cấp tốc di chuyển vì sợ ngày mai Pháp theo thông thường sẽ huy động nhiều lực lượng mở cuộc càn quét, tới một nơi hoang vắng, thì cũng chỉ với vài chai rưọu đế mà hỏa đầu quân luôn luôn phải sẵn sàng cung cấp, vài trái ổi chua, ô môi, xoài tượng, tùy theo mùa, hay nhiều lắm vài con vịt, gà, Mười Trí cũng có thể làm cho bữa tiệc vô cùng hào hứng. Mười Trí có biệt tài là pha trộn giữa những sự việc vô cùng quan trọng với sự bông đùa, những việc cần phải đổ máu với tiếu lâm. Mười Trí từng kể cho anh em nghe cuộc đời ngang dọc của mình khi còn là một tướng cướp, theo lệnh các anh lớn “đánh” ngay cả dinh của một viên quận trưởng Pháp ở Phan Thiết vì nhận được tin rằng “tên này” vừa đào được kho tàng đầy vàng của một bà chúa Chàm mang về chất đống tại tư dinh. Mười Trí đã thành công trong nhiệm vụ cùng với anh em Bình Xuyên khác, nhưng bi rượt nà, giữa đường rút lui về Nam, nơi các vùng chỉ có đồng bào sơn dã, đã phải đổi cả một rổ vàng để lấy một rổ cơm. Mười Trí cười lớn – Trong đời “qua” chưa hề bao giờ đánh cướp vụ nào mà không đoạt được dưới đồng. Hai ngàn thời trước 1940 bằng 2 triệu thời nay. Tiền này nạp vào “quỹ” để mua ruộng cho dân làng Bình Xuyên. “qua” được thưởng nhiều nhất là 200 đồng. Một lần “qua” đánh xong một vụ, dám chấp cả Catinat Công an Pháp, trụ sở tại bộ Nội Vụ đường Catinat tức Tự Do bây giờ tìm kiếm “qua” không nổi. Vậy mà các em biết không… Mười Trí uống hớp rượu lớn, đưa mắt nhìn quanh – Các em biết “qua” muốn nói gì không ? Một anh em dí dỏm đáp – Ồ, chỉ có chị Mười, mới biết anh muốn gì. Mười Trí đập đùi cười lớn – Em thực giỏi. Phải, chỉ có má con Liên con gái út của Mười Trí mới biết “qua” muốn gì. Mười Trí thấp giọng – Nói thực với các em, sau mỗi vụ cướp lớn, “qua” về Bình Xuyên nằm nghỉ ngơi, Catinat không cách nào tìm bắt được, “qua” không về Bình Xuyên, ở nơi khác thì Catinat cũng thua. Nhưng điều này thực lạ, khi “qua” có mèo, trốn còn kỹ hơn sau vụ ăn cướp, thì hai ngày sau là má con Liên đã bắt được “qua” tại trận. Sao kỳ vậy? Mọi người phá lên cười. Mười Trí không hiểu thực hay mua vui câu chưyện, điều đó không chút quan trọng vì ai cũng hiểu rằng giới chỉ huy Bình Xuyên có những nguyên tắc đã định là không thể cho đàn bà lung lạc hay chia rẽ anh em. Mười Trí có mèo, trốn nơi đâu thì cũng trong vòng tai mắt của anh em Bình Xuyên. Tức khắc họ ngầm báo cho “má con Liên” biết nên Catinat thua má con Liên ở chỗ đó. Những “thỏa hiệp” trên của Bình Xuyên còn thể hiện qua một chuyện được coi là ly kỳ và độc đáo giữa Mười Trí và Bảy Viễn trong thời kỳ kháng chiến. Bữa đó, Mười Trí từ Phú Lâm về Bình Xuyên thăm Bảy Viễn đã lãnh chức Khu phó khu 7, Phó Tư Lệnh quân đội Bình Xuyên. Mười Trí mặc bà ba đen, như mọi người kháng chiến, cùng vài cận vệ tới nơi được coi là “tư dinh” của Bảy Viễn. Cuộc đi bộ cũng hơi xa, mặt mũi Mười Trí lem luốc, nhưng cũng tiến thẳng tới tư dinh của Bảy Viễn gõ cửa. Một thiếu phụ vừa quá 20 tuổi rất đẹp từ trong nhà ra mở cửa Mười Trí – Thưa chị, thằng Bảy có nhà không ? Thiếu phụ quắc mắc nạt – Chú biết tôi là ai không? Mà chú là ai mà dám hỏi Khu phó một cách xách mé như vậy ? Lẽ cố nhiên Mười Trí khi “thưa chị” đã biết thiếu phụ này là vợ nhỏ của Bảy Viễn, nhưng trước những lời sỗ sàng, liền hạ lệnh cho các cận vệ rút lui, không một lời giải thích. Chiều về, Bảy Viễn được cô vợ nhỏ kể lại tự sự, Bảy Viễn hoảng kinh tức tốc đi tìm Mười Trí thì trong khi đó Mười Trí là cao cấp hơn Bảy Viễn, hạ lệnh cho chính lính của Bảy Viễn bắt “người đàn bà đó” đưa ra rạch xử tử. Khi đôi bên gặp nhau, Mười Trí chỉ cần giải thích một câu thực vắn tắt – Người đàn bà kênh kiệu, chua ngoa như vậy không được, vì sẽ làm mất lòng anh em. Khi anh em đã mất lòng, đại sự phải thất bác. Bảy Viễn nhận thấy những lời phê bình của Mười Trí là đúng. Giới anh chị Bình Xuyên trọng vọng người đàn bà hơn tay anh chị dao búa trong “đảng” vì biết rằng nếu người đàn bà có thực thâm đảm đang lo liệu cho gia đình, cho con cái thì “chiến sĩ” mới dám xông pha, vào tù ra khám cũng chẳng chút bận tâm. Tuy nhiên, người vợ mới quá trẻ đẹp khiến Bảy Viễn đêm đó nằm trên bộ ván bên cạnh Mười Trí, thở dài não nề. – Bảy, bộ mày tiếc của lắm sao? Bảy Viễn cũng không dằn được, trả lời bậm trợn – mày hạ lệnh giết nó rồi, tao không phản đối một câu, bây giờ tao… thở dài mày cũng cấm đoán sao ? Mười Trí cười xòa cho êm chuyện. Tinh thần của những con Rồng Xanh, tức là các cấp lãnh đạo Bình Xuyên là như vậy nên muốn lũng đoạn cả khối này, Nguyễn Bình phải nhờ tay Từ văn Ri tức Henri Từ ám sát Ba Dương, người thủ lãnh mà bất luận.. con Rồng Xanh nào cũng kính nể, cũng không dám phản đối khi Ba Dương đã quyết định một việc gì. Toàn thể Bình Xuyên đưa Dương văn Hà, tức Năm Hà, em ruột của Ba Dương lên chức thủ lãnh. Năm Hà, tuy học cao hơn Ba Dương nghĩa là có theo học nhiều năm các trường công lập nhưng thua xa người anh ruột về đủ mọi phương diện, từ sự thông minh, quán xuyến thâm thúy, quyết định đến cả võ nghệ. Điều đó không có gì lạ vì Năm Hà tuy cũng là 1 trong 10 con Rồng Xanh của Bình Xuyên nhưng thông thường núp dưới nanh vuốt của người anh hơn là tung hoành gây thành tích cá nhân cho mình. Sự thực trừ những người thân tín nhất ra, chưa ai biết rõ về võ nghệ của Ba Dương cao tới mức độ nào. Tuy nhiên trong giới võ nghệ miền Nam, người ta còn truyền tụng vụ “đụng độ” hi hữu giữa Ba Dương và Sáu Cường. Sáu Cường nổi tiếng trong “giới võ lâm” về thế liên châu nghĩa là tung chân phải lên đá chưa dứt đòn thì không cần phải có điểm tựa, không cần chân phải chấm đất, đã có thể phóng chân trái lên đá tiếp và cứ như vậy, liên miên như bất tận, cho tới khi hạ được địch thủ. Sáu Cường vừa đả lôi đài tại Chợ Lớn, lãnh chức vô địch Nam Kỳ. Không rõ ai đã nói gì, mà sau ngày “vinh quang” đó, Sáu Cường đơn thương độc mã, tới quán nhỏ trên đường từ Chợ lớn về nhà riêng của Ba Dương mà chờ đợi. Sau công việc chỉ huy tại nhà máy xay lúa, Ba Dương nhỏ thó, không cao quá 1 thước 60 phân, như một ông đồ nho, khăn đóng, áo dài đen, dù cắp trên tay thủng thẳng về nhà. Đã từng nghe danh, nhưng chưa hề gặp mặt, Sáu Cường ngạc nhiên khi được dân nhậu trong quán cho biết… anh đồ nho đó là Ba Dương; nhưng cũng vội vàng rời quán, tiến tới, lễ phép – Thưa ông Ba xưng hô vô cùng kính trọng vì Ba Dương và Sáu Cường tuổi xấp xỉ ngang nhau tôi là Sáu Cường… Ba Dương mỉm cười niềm nở đáp – À ra Thầy Sáu cách xưng hô này đã hơi trịch thượng so với câu chào của Sáu Cường. Tôi mừng cho Thầy vừa đoạt cbức vô địch. Sáu Cường hài lòng vì tin tức được loan truyền rất mau và chứng tỏ Ba Dương cũng đặc biệt chú ý tới mình, nên nhũn nhặn đáp – Thưa điều đó có gì quan trọng. Tôi muốn gặp ông Ba để xin một điều. – Thầy Sáu đừng khiêm tốn. Điều gì cứ việc nói. – Tôi muốn được ông Ba chỉ giáo một chút về võ nghệ. Ngày nào ông Ba cho phép… “Chỉ giáo” là danh từ khiêm nhượng không dấu được ý của Sáu Cường muốn giao đấu cùng Ba Dương. Ba Dương đưa mắt nhận xét Sáu Cường. Nếu phải là hai võ sĩ quyền Anh thượng đài thì không bao giờ ban tổ chức cho “cáp độ” giữa hai người này. Sáu Cường ít lắm cũng cao hơn Ba Dương 10 phân cân nặng hơn ít lắm 20 ký. Ba Dương như không nhận thấy sự chênh lệch về bề ngoài, dịu dàng đáp – Ồ ngày nào cũng được, ngay bây giờ cũng được. Mình “học hỏi” cùng nhau, có điều gì quan trọng đâu. Sáu Cường tuy ngạc nhiên nhưng trước những cặp mắt tò mò của đông người trong quán, vội trút bỏ nón nỉ, khăn bông quàng cổ, áo bành tô, cột chặt ống quần, thắt lại dây giầy gọn gàng theo ý muốn rồi nhẩy ra khoảng trống trước quán. Thêm một lần nữa, Sáu Cường ngạc nhiên khi thấy Ba Dương vẫn khăn đóng, áo dài và giữ nguyên chiếc dù trên tay – Ông Ba không sửa soạn… – Tôi sửa soạn rồi Thầy Sáu… bắt đầu đi. Giọng nói của Ba Dương thực hiền hòa, nhưng ý nghĩa câu nói lại vô cùng trịch thượng khiến Sáu Cường, mặc dầu có e dè tói đâu, cũng chỉ còn cố gắng gượng nói câu khách sáo – Vậy, tôi xin phép ông Ba. Khoảng cách giữa hai đối thủ hơn 6 thước. Sáu Cường nhún mình nhảy liên tiếp ba lần nhưng khi vừa đúng tâm mức để thi thố thế cước liên châu thì Ba Dương tung chân đá gió khiến Sáu Cường trở lại vị trí cũ. Sáu Cường bàng hoàng nhưng vẫn tưởng rằng sự thất thế của anh là do háo thắng của chính mình nên mới tạo cho đối phương cơ hội phản công. Lần này Sáu Cường thận trọng hơn nhưng kết quả cũng không hơn gì lần trước. Và thất bại lần thứ ba, Ba Dương vẫn trong tư thế nho nhã của một ông đồ, Sáu Ctrờng chợt hiểu nên vội vòng tay thi lễ – Cám ơn ông Ba đã tha chết hay ít lắm cũng đánh tôi bị thương. – Có gì mà Thầy Sáu quá lời như vậy? Sáu Cường lỗ mãng tới đâu chăng nữa, nhưng là con nhà võ, nên hiểu ngay các khuyết điểm của mình. – Ông Ba thương nên chỉ đá gió đã khiến tôi phải bật lại phía sau. Nếu ông Ba muốn gia hại, chỉ cần chờ tôi tiến sát tới thêm nửa thước nữa thì cái đá của ông Ba chắc chắn làm tôi bị thương, còn muốn giết tôi thì ông Ba chỉ cần chờ tôi tung cước mới đá theo. Ba Dương cười xòa – Thầy Sáu nhận xét tinh vi, lãnh chức vô địch Nam Kỳ quả thực xứng đáng. Từ đó Sáu Cường rất kính trọng Ba Dương và Ba Dương cũng coi Sáu Cường như kẻ đáng mến vì thẳng thắn và biết người biết ta. Con người đặc biệt của Ba Dương là như vậy anh hùng cá nhân tới tuyệt độ, nhưng lại là thủ lãnh của một khối kháng chiến đương quá mạnh về vũ khí cũng như tinh thần Nguyễn Bình mặc dầu là đảng viên Cộng sản nhưng đôi khi bản chất Quốc Dân đảng cũng “chợt thức giấc” anh hùng cá nhân tính vùng lên lại đứng trong tình thế “có tướng không có quân” thì việc thèm khát địa vị của của Ba Dương hay ít lắm cũng tìm đủ mọi cách hạ cho được Ba Dương để thực hiện ý đồ của mình là sự dĩ nhiên. Song song với sự ám sát Ba Dương, Nguyễn Bình tìm đủ mọi cách triệt hạ những lãnh tụ có ảnh hưởng trong Liên Quân Bình Xuyên. Năm Hà được anh em Bình Xuyên tôn lên chức Tư Lịnh, không làm cho Nguyễn Bình lo ngại. Năm Hà, tuy là một trong 10 con Rồng Xanh Bình Xuyên mười người chỉ huy Bình Xuyên nhưng tính tình ôn hoà, dễ dãi đôi khi có thể nói rằng mềm yếu đối với anh em, không sâu sắc, thông minh và quyết liệt như Ba Dương, nên Nguyễn Bình không mấy quan tâm. Tuy nhiên Nguyễn Bình luôn luôn phòng xa vì sợ “nó lú chú nó khôn” nên xếp đặt màng lưới nhện rất tinh vi tại Bình Xuyên. Bảy Viễn chỉ là Tư Lịnh Trung đoàn 2 Bình Xuyên trước khi nhường quyền cho Từ văn Ri tức Henri Từ được Khu trưởng Nguyễn Bình nâng lên làm Khu phó khu 7. Với sự cất nhắc Bảy Viễn lên địa vị này, Nguyễn Bình đã gây sự mâu thuẫn ngấm ngầm và trầm trọng trong hàng ngũ Bình Xuyên. Trên thực tế, Bảy Viễn chỉ là Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 2, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Năm Hà, Tư Lịnh Bình Xuyên. Theo “thứ bực Rồng Xanh” Bảy Viễn còn dưới cả Mười Trí vì đứng hàng thứ 9 nhưng với địa vị mà Nguyễn Bình vừa phong cho, Bảy Viễn trên giấy tờ, còn chỉ huy cả Năm Hà và Mười Trí. Bảy Viễn rất hãnh diện với địa vị cao mới nên đã không ngần ngại trao quyền chỉ huy Trung Đoàn 2 cho Từ văn Ri, một người dân Pháp, theo kháng chiến về đầu hàng Bình Xuyên, nhưng không phải là “gốc Bình Xuyên”. Hành động của Bảy Viễn làm cho Bình Xuyên lo ngại vì đã bộc lộ quá rõ ràng rằng Bảy Viễn muốn thoát khỏi sự chỉ huy của Bình Xuyên để đứng lên chỉ huy ngược lại anh em cũ. Tuy nhiên bên cạnh Năm Hà còn có những con Rồng Xanh khác như Tư Tỵ, Bảy Nam, Sáu Lào và “con Ly”, dưới cấp Long là Rồng vì Bình Xuyên tổ chức, đặt địa vị anh em theo Tứ Quý Long, Ly, Quy, Phượng. Dữ tợn nhất là Tư Ý, triệt để tuân theo mệnh lệnh và giúp đỡ nên Bảy Viễn e ngại chưa dám có hành động gì cụ thể chèn ép Năm Hà. Nguyễn Bình biết rõ điều đó nên giúp tay cho Bảy Viễn, một lần nữa, phân tán thế lực từ “gốc Bình Xuyên”. —>Xem tiếp Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trúc Giang MN thân tặng quý độc giả Quán Văn 1*. Mở bài Ngày 29-9-1951, Trung tướng Nguyễn Bình cùng đoàn tùy tùng 22 người trên đường ra Bắc theo lịnh của Trung Ương, đã bị toán lính Miên do một trung úy người Pháp chỉ huy, phục kích tấn công, và Nguyễn Bình bị tử thương tại làng Srépok, huyện Se San, tỉnh Stung Streng, Cam Bốt Sự thật rõ ràng là Nguyễn Bình bị Tây bắn chết, nhưng sau đó, Nam Bộ lại lan truyền câu hỏi “Ai giết Nguyễn Bình?”. Câu hỏi được truyền miệng trong bộ đội miền Nam và trong dân gian, từ đó, xuất hiện những bài viết về bí mật cái chết của Nguyễn Bình, “một tướng lãnh được xem như tài ba lỗi lạc, tận trung với Đảng, hết lòng yêu nước, được Tổ quốc ghi công và dân tộc sùng bái”. Thế nhưng, những bài viết tựa đề “Ai giết Nguyễn Bình”, “Tôi giết Nguyễn Bình”, “Những bí ẩn về cái chết của Nguyễn Bình” trực tiếp hoặc gián tiếp ám chỉ chính đảng CSVN là thủ phạm đã giết đồng chí của mình. Một số bài viết mang tính tuyên truyền, thanh minh thanh nga cho đảng, nhưng tất cả đều xoay quanh cái chết của Nguyễn Bình. Không có tài liệu nào chính thức nêu bằng chứng cụ thể, vì nó nằm trong những âm mưu của Đảng mà những người liên hệ, tuy còn sống cũng không dám hé răng. 2*. Việt Cộng công nhận Nguyễn Bình là một đảng viên trung kiên yêu nước Tháng 12 năm 1945, nhận thấy Nam Bộ có nhiều đơn vị kháng chiến không chịu nhận lịnh của Cộng Sản, nên Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam để “thống nhất các lực lượng vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”, những ai đầu phục thì thu nhận rồi tìm cách ám sát sau, dưới những lý do “hy sinh” hoặc “tử trận”. Nguyễn Bình được phong chức Khu trưởng Khu 7, miền Đông Nam Bộ. Hồ Chí Minh nói “Bác trao miền Nam cho chú đó”. Ngày 25-1-1948, Nguyễn Bình được phong chức Trung tướng, là trung tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân. Trong đợt phong chức nầy, Võ Nguyên Giáp là Đại tướng và 9 người khác như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiếu Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Nguyễn Bình là trung tướng đầu tiên, có nghĩa là Võ Nguyên Giáp từ đâu nhảy ngang vào đớp chức Đại tướng và cũng có thể Nguyễn Bình cũng nhảy ngang vào bợ chức Trung tướng, nghĩa là không có thứ tự, lớp lang về các chức vụ của quân dội. Ngày 21-3-1949, Hồ Chí Minh ký Sắc lịnh số 18-SL, cử trung tướng Nguyễn Bình làm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, lãnh đạo lực lượng vũ trang miền Nam chống Pháp. Sau nầy, Thượng tướng Trần Văn Trà đánh giá “Nguyễn Bình là người Cộng Sản trung kiên, một tướng lãnh quả cảm, nghĩa hiệp và tài thao lược. Công lao mãi mãi sáng ngời trên đài Tổ Quốc Ghi Công”. GS Trần Văn Giàu, nguyên là Bí thư Xứ Ủy Nam Kỳ cho biết “Đó là một vị tướng có tâm và tài trí của Nam Bộ”. Ngày 21-1-2000, Quyết Định số 52/BQP/QĐ cho thành lập đoàn công tác đi Campuchia tìm hài cốt Nguyễn Bình. Và ngày 26-2-2000, hài cốt Nguyễn Bình được mang về VN, làm tang lễ theo lễ nghi một tướng lãnh. Được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực Lượng Vũ Trang” và huân chương Hồ Chí Minh. Một tướng tài trung với đảng, một lòng yêu nước như thế thì tại sao phải bị khai trừ, thủ tiêu? Dư luận cũng thắc mắc tại sao phải chờ tới 49 năm, khi có nhiều người nhắc nhở, đề nghị thì đảng mới cho đi tìm hài cốt, và tại sao không tặng huân chương và danh hiệu anh hùng ngay sau khi bị Tây bắn chết? 3*. Trung Ương gọi Nguyễn Bình ra Bắc Nguyễn Bình lo lắng bất thường Vào tháng 5 năm 1951, Nguyễn Bình nhận được một bức thơ vắn tắt của Võ Nguyên Giáp nguyên văn như sau “Đồng chí thân mến, Đồng chí sẽ được một toán hộ tống 30 người gồm nhân viên tùy tùng và bảo vệ. Tôi tin rằng đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ nầy. Đồng chí sẽ đi đường rừng băng qua các tỉnh Kompong Chàm, Kratié, Stung Streng.” “Những người trong văn phòng anh ba Bình không hiểu lý do triệu hồi một viên tướng mà chính bác Hồ đã từng giao Nam Bộ trong những ngày “ngàn cân treo sợi tóc” “Bác trao miền Nam cho chú đó”. “Hai Giỏi, thư ký cũng là người bảo vệ, thấy anh Ba đăm chiêu, nghĩ ngợi, có vẻ lo lắng bất thường, trước lệnh của Trung Ương”. Dường như có linh tính báo trước Dường như có linh tính báo trước chuyến đi nầy may ít rủi nhiều, là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời, tuy Nguyễn Bình không nói ra, nhưng những người chung quanh nghĩ như thế. Nguyễn Bình lo lắng “việc ra Bắc” vì chính ông trước đây cũng đã ký những lịnh “đi Bắc” để đưa những đồng chí thân yêu lên đường đi vào cửa tử, đến bên kia thế giới. Trước khi lên đường, Nguyễn Bình NB đã viết thơ “tạm biệt” cho các bạn đã từng sống chết với nhau trên chiến trường. “Anh Ba nhớ đến người bạn đã chết như luật sư Lê Đình Chi, chẳng may bị máy bay Tây bắn chết. Anh không quên luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, người đã giúp anh đột nhập Sài Gòn năm 1946. “Ông Vĩnh đã yêu cầu mình cho một tiểu đội hộ tống về nhà tổ phụ ở Trung Lương Mỹ Tho đào 200 lượng vàng để làm công quỹ nuôi quân trong lúc cạn tiền”. Anh Ba soạn một số ảnh chụp chung với ông Vĩnh trong buổi lễ tấn phong trung tướng ở bờ kinh Dương Văn Dương, dán vào album nhỏ, gọi là lưu niệm chia tay. Ngoài ra, anh cũng viết thơ 5, 6 trang từ giả ông Lâm Thái Hoà, phụ trách pháo binh, bày tỏ nổi lòng của người ra đi không còn hy vọng gặp lại. Tất nhiên là không quên Tám Nghệ, người có tài vừa đánh giặc vừa làm thơ. Anh Ba yêu cầu Trung Ương cho khu trưởng Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ Tám Nghê cùng đi về Việt Bắc, nhưng đề nghị đó không được chấp thuận. Anh Ba kiểm điểm lại tất cả những việc làm, từ thành tích, chiến công đến những va chạm với mọi người, với cấp trên. Nguyễn Bình nhớ lại Hoàng Thọ. “Vụ Hoàng Thọ, mình đã quá nuông chiều cậu nầy. Nuông chiều vì một lẻ nó là thằng em út đồng hương Hải Phòng, có nhiều điểm giống mình, anh hùng hảo hán, trung thực, ăn nói ngay thẳng. Khi Hoàng Thọ bất mãn bỏ tiều đoàn 303 thì mình nhận được lịnh trên phải đưa nó ra Trung Ương để báo cáo. Mình biết “ra TW” là con đường chết, là một bản án tử hình đối với những đồng chí có nhiều uy tín và chiến công trong đơn vị. Mình hết sức khổ tâm. Nó đã nhiều lần cứu mình thoát chết, không có Hoàng Thọ, thì mình đã mồ xanh cỏ từ lâu. Tuy biết rằng đó là hạ sách, nhưng lịnh trên khó cãi, và mình cũng phải tránh tội bao che cho đàn em làm bậy. Mình phải ký giấy đi đường và cho lộ phí.” 4*. Vụ Hoàng Thọ Sự khủng bố của Việt Minh Trong thời buổi loạn lạc, các tay anh chị giang hồ lấy câu “tứ hải giai huynh đệ” kéo bè kết đảng, nổi lên xưng hùng xưng bá, mỗi nhóm một cõi bách hại dân lành. Họ tự cho mình là nghĩa hiệp sống bằng dao búa, giải quyết tranh chấp theo luật giang hồ. Đứng bến, đâm thuê chém mướn, dân đen có chút tiền của, ngày đêm nơm nớp lo sợ bọn đạo tặc, cướp ngày đó… Lúc bấy giờ Việt Minh nổi lên, thu phục bọn giang hồ dao búa làm tay chân. Những kẻ cướp của giết người ngày hôm trước, thì bỗng nhiên, ngày hôm sau thay hình đổi dạng trở thành bộ đội kháng chiến, như những tướng cướp Bảy Viễn, Ba Dương, Mười Trí, Nguyễn Phương Thảo là em kết nghĩa của nhà văn tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Nguyễn Phương Thảo sau trở thành Trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh lực lượng võ trang chống Pháp Nam Bộ. Sau năm 1945, Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, hốt hết những “phần tử nguy hiểm” gồm Cộng Sản và dân giang hồ, nên phải chạy theo Việt Minh, tướng cướp Bảy Viễn gia nhập bộ đội Việt Minh ở Bình Xuyên trong trường hợp đó. Thủ đoạn của Việt Minh là, một mặt tuyên truyền mị dân, một mặt khủng bố trấn áp làm cho dân khiếp sợ mà phải phục tùng. Thành phần Việt Minh VM ban đầu rất phức tạp, người đàng hoàng thì ít, mà kẻ lưu manh thì nhiều. Thủ đoạn đó được các tay giang hồ dao búa thực hiện bằng cách chụp mủ “Việt gian, Phản động”. Hai cái tội nầy chỉ có con đường chết, và nhiều người dân chết tức chết tưởi, chết oan chết ức, chỉ vì chủ trương khủng bố dằn mặt để tạo uy thế, và sự vâng lời. Thế rồi, vào những đêm tối trời, một đám người mã tấu, đến gỏ cửa, bịt mắt dắt đi. Người phải giết thì chặt đầu, cắt cổ, mổ bụng dồn trấu, cho đi mò tôm, bên cạnh xác chết có một bản án hày tội việt gian, phản động. Người cần phải thả để tuyên truyền thì cho học tập chính trị vài ngày rồi thả về để tuyên truyền và chứng minh VM sáng suốt, không giết lầm người. Chính sách dùng “bạo lực cách mạng” và vừa đánh vừa xoa, bao giờ cũng thành công đối với đám dân ngu khu đen, mua gánh bán bưng, chân lấm tay bùn ở nông thôn. Người dân ở Tây Ninh mà nghe đến tên Hoàng Thọ thì sợ xanh mặt, đối diện thì rụng rời tay chân, kẻ yếu bóng vía thì són đái ra quần. Về Hoàng Thọ Hoàng Thọ là tay anh chị thủ lãnh băng đảng cảng Hải Phòng, dáng người vạm vỡ, vai u thịt bắp, râu quai nón. Nhà nghèo, nên từ nhỏ phải vào nương tựa cửa Phật để có hai bữa ăn. Nhà sư thấy thương thằng bé siêng năng nhanh nhẹn, nên dạy võ nghệ để sau nầy dễ bề kiếm ăn. Năm 17 tuổi, Thọ cởi trần gánh nước, trên ngực lún phún một chùm lông. Thấy vậy, nhà sư im lặng quay đi, và từ đó chỉ dạy gõ mõ tụng kinh. Thọ nản lòng, cuốn gói từ biệt nhà chùa. Nhà sư lẩm bẩm râu rìa lông ngực là tôi phản thần”. Thủ lãnh bọn đầu gấu cảng Hải Phòng Thọ vào đời, xông xáo múa võ sinh nhai. Trên giới giang hồ Hải Phòng, Thọ nổi tiếng là tay tàn độc. Một lần, đụng độ với gả thũ lãnh bến tàu tên Luân Mặt Ngựa. Thọ hạ độc thủ. Đối thủ bị gãy chân nằm dài dưới đất, nhưng vẫn giữ phong độ thủ lãnh, giương mắt trừng trừng nhìn Thọ, có vẻ không phục, hoặc hứa hẹn sẽ trả thù. Thọ đứng nhìn một hồi rồi lên tiếng “Mẹ kiếp! Dứt điểm mầy luôn để trừ hậu hoạ”. Nói xong, Thọ quỳ xuống, giương thẳng cánh tay với thế song chỉ đoạt ngọc châu, dùng 2 ngón tay phóng mạnh vào ổ mắt của Luân Mặt Ngựa. Cặp tròng lòi ra, máu me ướt cả mặt. Thọ lấy tay chụp, ném mạnh xuống đất, rồi dùng chân chà đạp. Thọ dạng chân ra, vạch quần đái vào mặt người bại trận, trước sự chứng kiến của đám đàn em đang mặt mày tái mét, im thin thít, bất động. Thọ thản nhiên bỏ đi. Và mấy ngày sau trở lại, nghiễm nhiên là thủ lãnh bọn đầu gấu của cảng Hải Phòng. Khi Nhật đảo chánh Pháp, tàu Nhật cặp bến Hải Phòng. Trước sự hùng mạnh của đạo quân Thiên Hoàng, băng đảng tan rả, phân tán tứ phương. Chớp lấy cơ hội, Hoàng Thọ xin vào hải quân Nhật, được dạy làm thợ điện. Ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, tàu Nhật rút lui. Hoàng Thọ thu thập đám đàn em, quay lại nghề cũ, với cái tên mới là Thọ Mạch Lô Tiếng Pháp Matelot là lính thủy. Khi Việt Minh cướp chính quyền, Thọ theo đoàn quân Cứu Quốc. Từ đó, trôi giạt vào Nam, làm tay chân của tướng Nguyễn Bình. Hung thần của Cao Đài tỉnh Tây Ninh Cả tỉnh Tây Ninh, ai nghe đến danh Hoàng Thọ cũng đều e dè khiếp sợ. Địa bàn hoạt động của Thọ là hai quận Gò Dầu Hạ và Trảng Bàng, và mục tiêu là những chức sắc Cao Đài, những người làm việc cho Pháp, và những kẻ bị kết tội Việt gian, phản động. Người chết dưới tay của Hoàng Thọ đếm không xuể. Hành tung của Thọ vô cùng bí ẩn, thoáng hiện, thoáng biến khó lường. Trong thời loạn lạc, bóng đêm là thế giới của ma quỷ và tội ác. Khi mặt trời vừa tắt, Thọ nương theo khí âm trở về, xuất hiện dưới một bóng dáng oai hùng lẫm liệt. Hông trái với gươm dài, hông phải súng ngắn, trang bị theo cấp chỉ huy của quân đội xứ Phù Tang. Gươm ra khỏi vỏ là phải có máu. Thọ xuất hiện như tử thần, đi đến đâu là có đổ máu đến đó. Giết người trong chớp mắt, mà không nháy mắt. Cắt cổ, chặt đầu, mổ bụng dồn trấu và cho đi mò tôm, là sở trường thiện nghệ của Hoàng Thọ, và của Việt Minh, trong khi thi hành mệnh lệnh của Nguyễn Bình và Trần Văn Giàu bí thư xứ ủy Nam Kỳ, chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ. Khúc sông Vàm Cỏ Đông chảy qua 2 quận Trảng Bàng và Gò Dầu Hạ, là mồ chôn những nạn nhân của Việt Minh và nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Người dân sống hai bên bờ sông, cứ vài ngày thì thấy một “thây ma chết sình” gọi là “chà chổng” nổi lình bình trên mặt nước. Nhìn vào vết tích của thi thể thì biết ngay thủ phạm là ai, VM hay là Tây sát hại. Tây thì trói thúc ké, đưa ra cầu Vên Vên, bắn xong hất xác xuống sông. Việt Minh thì không phí đạn, cắt cổ hay đập đầu. Việt Minh đã tấn công vào Tòa Thánh Tây Ninh, lực lượng bảo vệ do Trịnh Minh Thế chỉ huy, bị thất bại, nên một trung đội Việt Minh đã hạ sát đàn bà, trẻ em tại các nhà dân cách Tòa Thánh 100m. Trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Thọ Hoàng Thọ còn có biệt tài đánh trận. Nổi tiếng gan lì, từng gây tổn thất lớn lao cho bọn thực dân Pháp. Hoàng Thọ được trung tướng Nguyễn Bình phong chức Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn ba lẻ ba 303, thuộc khu 7, miền Đông. Hoàng Thọ đã đem thành tích và uy danh cho Nguyễn Bình. Tiểu xảo phô trương lực lượng Vào đêm tối trời. Thọ cho quân di chuyển chung quanh làng. Cũng bao nhiêu quân đó mà cứ tiếp tục đi vòng quanh làng từ đầu hôm đến sáng. Từ đầu trên xóm dưới, chó sủa suốt đêm, kết hợp với tuyên truyền, dân chúng tin rằng “Đạo quân ông Thọ” lên tới hàng ngàn người. Trận đánh cuối cùng Hoàng Thọ mê chuyện Tàu, khoái nhân vật Hạng Võ, chủ trương quân cần tinh, không cần đông, hành quân thần tốc, dàn quân theo thế tử chiến, phía trước là địch quân, phía sau là chướng ngại vật không còn đường rút lui, như sông ngòi chẳng hạn, buộc binh sĩ chỉ có con đường là “cầm gươm ôm súng xông tới”, tìm chiến thắng và sự sống trong cái chết. Tiểu đoàn ba lẻ ba thường phục kích các đoàn công voa tiếp tế của Pháp, theo chiến thuật như thế, và đã đạt được thắng lợi, thu hoạch được nhiều vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng. Nhiều lần lập được công lớn. Nguyễn Bình hài lòng và thương mến. Trong đời cầm binh, Thọ chỉ thất bại có một lần duy nhất, và cũng là báo hiệu chấm dứt cuộc đời của Hoàng Thọ. Theo chiến thuật cũ, Thọ đưa quân về Vên Vên Trà Võ, phục kích đoàn xe tiếp tế của Pháp. Nửa đêm, quân của tiểu đoàn ba lẻ ba, đào hố cá nhân, ngụy trang độn thổ. Phía sau là sông Vàm Cỏ Đông, phía trước, bên kia con lộ là rừng cao su bạt ngàn, chạy về tới Cầu Khởi, tiếp giáp với chiến khu Bời Lời. Lúc 10 giờ sáng. Ba chiếc ôtô blindé xe bọc sắt mở đường vừa qua khỏi, thì đoàn công voa trờ tới. Thọ chờ cho cả đoàn xe lọt trọn vào ổ phục kích, liền nổ súng. Quân lính từ hố cá nhân tràn lên, giáo mác, súng mút cà tông Mousqueton súng trường, còn gọi là “quảnh tầm sào”, vì dài như cây sào xung phong ào ạt, khí thế mãnh liệt như chẽ tre. Nhiều xe bị cháy, nhiều chiếc lật xuống bên kia lề đường. Quân tiểu đoàn 303 làm chủ tình thế. Bỗng nhiên, từ trong rừng cao su trước mặt, bọn lính Lê Dương xuất hiện, tấn công mãnh liệt, vũ khí tự động như mi trai dết, tôm sông Thompson, đã đè bẹp giáo mác và “quảnh tầm sào” bắn từng phát một với hộp đạn 5 viên. Tiểu đoàn Hoàng Thọ thất thế, không có đường rút lui, mà phía trước là hoả lực mạnh mẽ của Lê Dương, nên phải đánh cận chiến. Cảnh hỗn loạn xảy ra. Đội hình tan rả, hệ thống chỉ huy không còn, mạnh ai nấy đánh và tìm đường thoát thân. Tiếng la hét, súng liên thanh nổ dòn, những cây thịt ngã xuống. Trong cảnh hỗn loạn, không ai thấy Hoàng Thọ đâu cả. Mưu mô, xảo trí và nhanh nhẹn như con sóc, không ai biết Hoàng Thọ thoát thân bằng cách nào. Chuồn về mật khu Bời Lời, kiểm điểm quân số, thì dưới tay Hoàng Thọ chỉ còn lại hơn 30 mạng, và gần 120 bỏ xác tại chiến trường. “Thói quen trong chiến thuật” đại kỵ đối với người cầm binh, không biết Hoàng Thọ có hiểu ra cái lý lẻ đó không? Chỉ có một bài bản, xử dụng tới lui, xào qua, nấu lại, thì “đi đêm có ngày gặp ma”. Hoàng Thọ giết đảng viên Năm Chiếu Sau thất bại chua cay, Hoàng Thọ nghi ngờ có gián điệp nằm vùng làm nội tuyến. Người mà Hoàng Thọ “chiếu tướng”, là Lê Minh Chiếu, tự Năm Chiếu. Năm Chiếu là tay chân thân tín của Nguyễn Bình, hoạt động nội thành, thường ra vào mật khu để báo cáo và nhận chỉ thị. Hoàng Thọ cho người phục kích bắt Năm Chiếu trên đường trở về thành, đem đến cái lều hoang giữa rẫy bắp ở ven rừng. Thọ mình trần, ngồi trên chõng tre dõng dạc hỏi tội Năm Chiếu. Năm Chiếu mặc đồ đen, khăn rằn quấn cổ, mặt không hể đổi sắc – Loạn rồi! ông biết tôi là ai không mà dám nói thế? – Mầy là thằng điềm chỉ cho Tây. – Ông không đủ tư cách để nói câu đó! Năm Chiếu cười mỉa. – Tao đập đầu mầy như đập một con chó phản bội, Thọ gầm lên. Nói xong, Thọ ra lệnh trói Năm Chiếu lại và dẫn đi. Năm Chiếu quay lại nói “Anh em có mặt ở đây xin báo cáo việc nầy lên đồng chí Nguyễn Bình”. Hoàng Thọ xô Năm Chiếu chúi nhủi về phía trước và nói “Nguyễn Bình không cứu nổi mầy đâu”. Thọ dẫn Năm Chiếu đến cái giếng lạn ven rừng, đưa khúc gỗ đập mạnh vào ót, và đạp xác xuống giếng. Khi Hoàng Thọ trở lại lều, có người nói “Năm Chiếu là đảng viên đó”. Thọ vung tay bất cần “Đảng cái con buồi tao!” Ít lâu sau đó, Hoàng Thọ được gọi về gặp Nguyễn Bình. – Sao giết Năm Chiếu? Nguyễn Bình hỏi. – Hắn là gián điệp cho Tây. – Hồ đồ! Năm Chiếu là người của Đảng, chú dám tự tiện ra tay, không cần chỉ thị cấp trên. Chú đương là “đối tượng” được đề nghị kết nạp, nhưng vô kỷ luật không còn xứng đáng nữa!. Thọ quen thói du côn, coi trời bằng vung, không biết sợ là gì “Thọ nầy đi kháng chiến vì dân vì nước, không cần Đảng. Đảng chỉ là bọn bè phái bênh vực cho nhau”. Lời vừa ra khỏi miệng, Thọ biết đã lỡ lời. Nguyễn Bình cười nhạt, đuổi Thọ ra ngoài chờ chỉ thị. Hoàng Thọ được chỉ thị ra Trung Ương nhận công tác mới. Con cáo tinh ranh biết được đường ra Bắc là đường không có điểm đến, đó là con đường chỉ có vào cửa tử, mà Thọ cũng đã nhiều lần đẩy người khác trên con đường đó, xuống địa ngục. Nhớ lại vụ Kiều Đắc Thắng, một hung thần đã từng thi hành những bản án “Việt Gian”, Phản Động” mà Trần Văn Giàu và Nguyễn Bình kết tội. Kiều Đắc Thắng đã ám sát ông Phan Văn Hùm tại quê của ông là Bún, Lái Thiêu vào tháng 10 năm 1945. Về sau, thấy Thắng quyền hành quá lớn, muốn vượt qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn Bảy Trấn nên Nguyễn Bình đã gởi Kiều Đức Thắng “ra gặp bác Hồ”. Kiều Đắc Thắng được đổi tên là Vũ Tùy Nhàn, rồi người bị giết trên đường đi là Vũ Tùy Nhàn, một cái tên không ai biết, nên không gây xôn xao trong ba quân. Thọ rời kháng chiến, đi biệt tích, xem như cái tên Hoàng Thọ không còn tồn tại trên đời nầy nữa. Một năm sau. Có một người khách từ miền Bắc đến Mỹ An. Khách nói năng hoạt bác, sành đời. Khách mở một quán lá bên đường, ven bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, làm kế sinh nhai. Người dân Đồng Tháp Mười gọi chủ quán là ông Bắc Kỳ. Một năm sau nữa. Có một người khách lỡ đường, ghé quán ông Bắc Kỳ xin trọ qua đêm. Trời chiều. Con kinh chạy dài hai bên bờ dừa nước mênh mông, vắng lặng. Chủ khách nói chuyện tâm đắc bên ly rượu nồng. Khách nhận xét chủ quán, ông có phong cách của người chỉ huy quân sự, ăn nói có lớp lang, rành mạch, dứt khoát rõ ràng, đâu ra đó. Ông Bắc Kỳ cười, đáp “Lấy hình tướng để xét thực tướng là cái sai nhất của người đời”. Ông khách đáp “Ở đời, thực giả lẫn lộn nhau, qua cái giả để nhận ra cái thật, qua hiện tượng để nhận ra bản chất”. Nửa đêm hôm ấy, ông Bắc Kỳ chủ quán bị bắt đem đến kinh 12, Đồng Tháp Mười. Ông khách nửa đùa nửa thật “Năm Chiếu ở Suối vàng gởi lời thăm Hoàng Thọ, và nhắn xuống dưới chơi.” – Mầy là ai? Ông Bắc Kỳ hỏi. – Tôi là bạn của Năm Chiếu, được chỉ thị của đồng chí Nguyễn Bình đi tìm Hoàng Thọ bấy lâu nay. Biết cuộc đời chấm dứt, Hoàng Thọ lớn tiếng chửi Đảng, tàu xà lúp chở không hết. Thọ bị đập đầu ngã xuống đất, cơ thể co giật như thằn lằn đứt đuôi, địt tèn tẹt, cứt già cứt non bắn ra ướt cả đáy quần. Ông khách cho lịnh phá nát khuôn mặt Hoàng Thọ để không còn ai nhận ra được danh tánh, và Đảng đã đứng ngoài việc thanh toán một cựu công thần nầy. Chuyến đi nầy thật sự không còn Hoàng Thọ trên đời nầy nữa. Nợ máu phải trả bằng máu. 5*. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bình Tóm tắt tiểu sử Nguyễn Bình Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1906 tại xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Năm 11 tuổi về ở với người anh cả, làm công chức ở Hải Phòng. Năm 17 tuổi thôi học năm thứ hai trung học, sau đó làm thủy thủ trên chiếc tàu Pélican của hảng Messagenés Maritimes chạy tuyến Sài Gòn-Marseille Pháp. Sau đó, bỏ tàu, về sống ở Khánh Hội. Kết nghĩa anh em với tướng cướp Sơn Vương Phương Thảo có máu giang hồ, thích phiêu lưu mạo hiểm nên kết nghĩa anh em với nhà văn-tướng cướp Sơn Vương, Trương Văn Thoại. Tham gia vụ cướp tiền của tên Tây René Gaillard, phó giám đốc đồn điền cao su Mimot, Cam Bốt, giáp ranh với Tây Ninh, thu được số tiền 50 ngàn đồng. Phương Thảo mở tiệm giặt ủi Thảo Sơn ở ĐaKao. Sau vụ cướp, Sơn Vương bị đi tù Côn Đảo. Nguyễn Phương Thảo gia nhập Việt Nam Quốc Dân đảng Phương Thảo kết bạn với nhà báo Trần Huy Liệu và được Liệu móc nối vào Việt Nam Quốc Dân đảng. Sau vụ khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái, VNQDĐ bị phân tán. Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo bị bắt, án tù 5 năm, đày đi Côn Đảo. Trong tù, Trần Huy Liệu được tù CS móc nối nên có khuynh hướng CS. Vì thế, tù VNQDĐ lên án tử hình và cắt cổ, nhưng Trần Huy Liệu thoát chết. Phương Thảo bị móc một mắt bằng bàn chải đánh răng mài nhọn. “Bị mất con mắt trái bởi đồng đảng, nhưng Phương Thảo như sáng ra, nhận thấy việc tham gia VNQDĐ là sai lầm, chủ nghĩa tam dân chỉ là lý thuyết suông”. Từ đó, kinh nghiệm sống dựa trên nguyên tắc “Đánh lưỡi 7 lần trước khi nói”, “động não 7 lần trước khi quyết định tham gia đảng chính trị”. Vì thế, sau khi mãn tù về Hải Phòng, Phương Thảo đã từ chối đề nghị của Trần Huy Liệu, quyết không vào đảng Cộng Sản. Nguyễn Bình lập căn cứ chống Pháp Năm 1936, khi mãn hạn tù, bị trục xuất về nguyên quán Hải Phòng, Phương Thảo tuyên bố ly khai VNQDĐ, đổi tên thành Nguyễn Bình và cũng quyết định không vào đảng CSVN. Nguyễn Bình lập căn cứ Đông Triều chống Pháp, uy thế gia tăng. Theo Việt Minh sau cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nguyễn Bình đeo kiếng đứng sau Hồ Chí Minh* Tháng 12 năm 1945, Hồ Chí Minh cử Nguyễn Bình vào Nam Bộ. Năm 1948 được kết nạp vào đảng CSVN. Ngày 29-9-1951, bị Tây phục kích giết chết trên đường ra Việt Bắc. 6*. Những trang nhật ký cuối cùng Ngày 26-7-1951, khi được lịnh ra Bắc, Nguyễn Bình cùng 22 nhân viên khởi hành từ Tân Uyên qua Cam Bốt để ra Bắc. Nhật ký của Nguyễn Bình viết “Đi từ Sốcky đến Suối Đá, rồi từ đó đi Tà Nốt, tôi phải nằm trên xe bò vì bịnh ngày càng nặng. Bác sĩ ở Cam Bốt cho biết, phải tạm nghỉ 2 tháng nếu không muốn ngã quỵ trên đường đi. Tôi nghĩ, phải nghỉ 2 tháng, rồi đến 3 tháng mùa mưa nữa mới tới TW ở Việt Bắc, thì không thể được, vì một năm không hoạt động trong tình hình kháng chiến ác liệt, nên tôi quyết định ra đi. 80% đoàn bị sốt rét, 4 chiếc xe bò chở không hết. Gạo sắp hết. Giữa đường xe bò bị gãy trục là một điềm xấu. Ngày 21-9-1951, tất cả đều bịnh, tôi phải vào bếp nấu cơm cho cả đoàn. Hai trinh sát viên đi liên lạc có thể đã bị bắt, cho nên các đồng chí ở Nackor đã không hay biết gì đến chúng tôi. Ngày 23 tháng 9, tôi quyết định thay đổi lộ trình để tránh gặp địch. Ngày 24, không còn gì ăn. Ngày 25, 26, 27 anh em câu được vài con cá đem nấu canh me. Ngày 29-9-1951, sáng ra, cho người đi mua khoai sắn nhưng không có.” Trưa ngày 29-9-1951, trung tướng Nguyễn Bình bị phục kích và hy sinh. Nhật ký chấm dứt. Cộng sản nó giết mình hôm nay Ngày mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu 8*. Tại sao Cộng Sản giết Nguyễn Bình? Đây là một âm mưu giết hại “công thần” cho nên được xếp vào loại tuyệt mật. Phái đoàn Nam Bộ ra Bắc báo cáo tình hình Năm 1948, một phái đoàn Nam Bộ do Trần Văn Trà hướng dẫn ra Bắc, báo cáo tình hình kháng chiến Nam Bộ. Nguyễn Bình cử người thân tín là Lương Văn Nho tháp tùng, và căn dặn, sau khi báo cáo phải xin phép về miền Nam liền. Thế nhưng, khi Nho xin phép, thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu ở lại làm bản “đánh giá công tác vận động giang hồ tham gia kháng chiến”. Bản đánh giá được xem như bằng chứng mà Nguyễn Bình đã xử dụng đám lưu manh, đầu trộm đuôi cướp vào cuộc kháng chiến, và đã phá hoại uy tín của Đảng, tạo lý do khai trừ. Sau khi viết xong bản đánh giá, Lương Văn Nho cũng không được về Nam Bộ, mà được cử đi học ở Liên Xô. Thành lập lực lượng chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ Thay ngựa giữa dòng Sau khi nghe Trần Văn Trà báo cáo tình hình, thì đảng thành lập ban chỉ đạo kháng chiến Nam Bộ do Lê Đức Thọ lãnh đạo, với sự tham dự của tướng Lê Hiếu Mai, Minh Đạo và đầy đủ thành phần các ban bệ như tình báo, chính trị, các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ… Lực lượng chỉ đạo nầy vào Nam thay thế Nguyễn Bình. Đồng thời, Nguyễn Bình được triệu hồi ra Bắc. Nói cụ thể là loại trừ Nguyễn Bình, là người đã hết vai trò xử dụng. Thay ngựa giữa dòng. Giả thuyết về những biện pháp loại trừ Nguyễn Bình – Có ý kiến cho rằng Hồ Chí Minh chỉ muốn đưa Nguyễn Bình ra Bắc còn sống, nghĩa là không chận giết dọc đường. – Cũng có ý kiến cho rằng Trung Ương đã mật báo cho Tây biết lộ trình của Nguyễn Bình, để mượn dao giết người, ném đá giấu tay. – Một ý kiến khác cho rằng Mao Trạch Đông yêu cầu Hồ Chí Minh cải tổ đảng, loại trừ những thành phần trước kia là đảng viên các đảng chính trị khác, như Nguyễn Bình đã từng là đảng viên VNQDĐ, lý do nầy không vững, vì Trần Huy Liệu trước kia cũng là đảng viên VNQDĐ, nhưng không bị khai trừ. Nói chung, Nguyễn Bình đã chết dưới tay của đảng CSVN. 9*. Kết luận Nguyễn Bình đã giết đồng đội của mình là Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Kiều Đắc Thắng và tới phiên hắn, cũng bị các đồng chí Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp diệt trừ. Đó là điển hình của tình đồng chí Cộng Sản và những bản án tử hình. Và đó cũng là truyền thống của các đảng Cộng Sản thế giới. Đứng đầu là Staline của đảng Cộng Sản ở Nga. Người mà Tố Hữu của đảng Cộng Sản VN ca ngợi và noi gương “Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xích Ta Lin bất diệt!” Tố Hữu Chỉ trong 2 năm 1937 và 1938, Staline đã cho xử bắn 1,548,367 người, tính ra trung bình có 1,000 người bị giết mỗi ngày. 14 trong 15 đồng chí Bolshevik trừ Staline ra bị xử bắn và thủ tiêu. 3 trong 5 nguyên soái bị tử hình. 3 trong 5 Tổng tư lịnh QĐ bị tử hình. 10 Phó tư lịnh bị tử hình. 57 trong 85 tư lịnh quân đoàn bị tử hình. 110 trong 195 tư lịnh sư đoàn bị tử hình. Ở Trung Cộng, Mao Trạch Đông đã giết những đồng chí thân cận nhất của hắn, như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu… Cộng Sản VN thì nhẹ nhàng và kín đáo hơn. Vụ 7 tướng lãnh trong đó có tướng Đào Trọng Lịch bị chết tai nạn trong chuyến bay công tác sang Lào. Đoàn cán bộ cao cấp quân đội chết nạn trong chuyến bay thăm đảo Sơn Trà. Cái chết đột tử của 2 đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn. Hoàng Văn Hoan phải đào tẩu sang Trung Cộng mới sống sót. Khi gọi nhau bằng “đồng chí” trong các câu chuyện đối đáp nhau, thì báo hiệu là sẽ có vấn đề sanh tử, và đồng chí đi liền với đồng rận. Chí và rận cùng loại như nhau. Trúc Giang MN
ai giết nguyễn bình