Xẩm và tàu điện đã đến với Hà Nội như một cơ duyên. Hai thứ ấy đã kết hợp với nhau để sản sinh ra một loại hình nghệ thuật độc đáo – xẩm tàu điện chỉ riêng có ở Hà Nội. Khác với các loại hình xẩm truyền thống như xẩm chợ, xẩm cô đầu (hay còn gọi xẩm ba bậc, xẩm nhà tơ, xẩm huê tình Các bài hát xẩm thường đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình huống của cuộc sống. Đặc biệt, các nghệ nhân hát xẩm thường chọn thơ văn có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm để thể hiện trong các làn điệu xẩm. Tháng 10 năm 1998, tròn một năm sau ngày Năm Cam ra về, chị Tư Xẩm - người Năm Cam thương mến nhứt, đã qua đời sau một thời gian dài chữa trị bệnh ung thư. Trước ngày nhắm mắt Tư Xẩm nhắn gọi Năm Cam vào và chỉ vào Thọ trăn trối: Ngày 26/11/2011, Nhà hát Chèo Ninh Bình đã tổ chức lễ khai trương công trình khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát xẩm nhằm sưu tầm, biên soạn, truyền dạy và phổ biến các bài hát xẩm theo các làn điệu cổ truyền, dàn dựng chương trình hát xẩm, bảo tồn, phát Tuy nhiên, dân gian thường gọi tên các loại xẩm theo một số tiêu thức khác, đó là gọi theo tên bài xẩm nổi tiếng như “Xẩm anh Khóa” (theo tên bài thơ được hát theo điệu Xẩm Tiễn chân anh Khóa xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải), hoặc theo mục đích, nội dung bài Tuyển Tập Các Nhạc Dân Ca Chọn Lọc Hay Nhất Như Nhạc Cả Lương, Quan Họ Bắc Ninh, Hát Chầu Văn, Tân Cổ Giao Duyên, Hát Chèo, Trích Đoạn Tân Cổ, Hát Xẩm Chọn Lọc Hay 2020. TXNJVn. Cùng với hát Chèo và ca trù, Xẩm cũng là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian gắn liền với sự phát triển của đất nước, văn hoá dân tộc. Vậy hát Xẩm là gì? Nguồn gốc, quá trình phát triển của dòng nghệ thuật này như thế nào? Cùng Lạc Việt Audio chúng tôi tìm hiểu ngay trong bài viết này để được giải đáp nhé! >>>> Tham khảo thêm các tin tức Nhạc đỏ là gì? Bí quyết chọn loa nghe nhạc đỏ đỉnh nhất Nhạc R&B là gì? Dòng nhạc cuốn hút qua từng thập kỷ Hát Xẩm là gì? Hát Xẩm được coi là loại hình nghệ thuật cổ truyền của Việt Nam ra đời từ rất lâu và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia cần được bảo tồn. Vậy hát Xẩm là gì? Nghệ thuật hát Xẩm là gì? Hát Xẩm là một dòng dân ca của nước ta phát triển mạnh và phổ biến tại đồng bằng Bắc Bộ và trung du miền núi phía Bắc. Ban đầu hát xẩm là một hình thức mưu sinh của những người dân nghèo khổ tại các chợ, đường phố và nơi đông người qua lại. “Xẩm” ở đây dùng để chỉ người biểu diễn. Theo quan niệm dân gian thì hát Xẩm gắn liền với những nghệ sĩ khiếm thị nghèo khổ, phải rong ruổi khắp nơi, nay đây mai đó không có nhà cửa, sử dụng cây đàn và tiếng hát của mình để mưu sinh. Hát xẩm là gì? là loại hình nghệ thuật dân gian phổ biến tại Bắc Bộ Hát Xẩm tiếng anh là gì? Hát Xẩm trong tiếng anh được gọi là songs of a strolling blind musician tức là bài hát dạo của một nhạc sĩ mù. Nhưng cái trên này không còn đúng 100% cho đến ngày nay vì dòng nghệ thuật này được truyền dạy và giữ gìn với các nghệ sĩ không bị khiếm thị. Một từ khác trong tiếng anh để chỉ được loại hình nghệ thuật này mà vẫn giữ được nét đẹp và văn hoá của nó, đó là Xam singing. Hát xẩm trong tiếng anh là songs of a strolling blind musician Nguồn gốc của nghệ thuật hát Xẩm Truyền thuyết kể rằng vào đời vua Trần Thánh Tông có hai người con trai là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh, vì muốn tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Toán đã hãm hại Trần Quốc Đĩnh khiến ông Đĩnh bị mù loà, bỏ lại giữa rừng sâu. Vì buồn đau mà ông chỉ biết than khóc đến thiếp đi và trong mơ đã được bụt chỉ cho cách làm ra cây đàn từ dây thừng và que nửa. Tỉnh dậy ông làm theo và thật lạ kỳ khi chiếc đàn ấy có thể phát ra âm thanh thần kỳ khiến chim muông mang đến hoa quả cho ông ăn. Về sau thì Trần Quốc Đĩnh đi dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị, dù ông được cha đưa về cung nhưng vẫn không quên truyền dạy lại cho người đời. Ông cũng được coi là ông tổ của nghề hát Xẩm. Tuy nhiên đây chỉ là tích truyện vì theo sử sách ghi thì hoàn toàn không có hai hoàng tử tên như vậy. Theo nghiên cứu trên các tài liệu thì hát Xẩm ra đời vào khoảng thế kỷ 14 – 15 những năm 1500 – 1600, ban đầu chúng được gọi coi là hát rong, hát dạo của người nghèo, người mù. Nghệ thuật hát Xẩm ra đời khoảng thế kỷ 14-15 Đặc điểm của hát Xẩm là gì? Hát Xẩm gắn liền với các hình ảnh của những người dân nghèo khổ, người khiếm thị ôm cây đàn hát để đổi lấy chút tiền gạo. Nội dung của các bài Xẩm thường phản ánh hiện thực xã hội qua trong từng thời kỳ cụ thể. Để có thể biểu diễn được một bài Xẩm đòi hỏi nghệ nhân phải thành thục chơi nhạc cụ, vừa hát vừa chơi nhạc sao cho ăn khớp và hoà quyện với nhau nhất. Hát Xẩm yêu cầu cao về biểu đạt cảm xúc, nghệ nhân phải bộc lộ rõ được tâm tư, tình cảm của mình nhân vật trong từng lời ca, tiếng hát và cách chơi nhạc cụ. Xẩm thường mang yếu tố thơ ca với nhiều bài thơ được diễn ca như thơ của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính. Nghệ thuật hát Xẩm được liệt vào trung ca tức những bài hát nhạc về trung hiếu lễ nghĩa. Hát Xẩm phản ánh hiện thực xã hội Các làn điệu trong nghệ thuật hát Xẩm Nghệ thuật hát Xẩm có 2 làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào, nhưng trên thực tế có rất nhiều làn điệu được lưu truyền và sử dụng trong dân gian. STT Tên làn điệu Đặc điểm 1 Làn điệu Xẩm chợ Hát xẩm được biểu diễn ở những góc chợ với giai điệu ngắn gọn, giản dị, có chút hóm hỉnh để thu hút nhiều người nghe. 2 Làn điệu Thập ân Xẩm thập ân có nghĩa là ghi nhớ 10 điều khắc ghi công ơn của cha mẹ từ nhỏ cho tới lúc trưởng thành. Thể hiện được chữ Hiếu trong xã hội, tiếng xa của Thập ân mang theo sự da diết, giàu cảm xúc, dễ chạm tới tim của người nghe. 3 Làn điệu Phồn Huê Thể hiện sự đồng cảm của nghệ nhân hát với phụ nữ thời phong kiến với nội dung thuật lại những đau khổ, tủi nhục mà người phụ nữ phải chịu đựng chỉ trích thói xấu của chồng, xã hội. 4 Điệu Riềm Huê Còn được biết là Xẩm Huê Tình thường có tiết tấu tươi vui kết hợp với giai điệu trống cơm giúp nghệ nhân hát truyền tải được rất nhiều màu sắc tâm từ tình cảm và nội dung. Nội dung thường về tình yêu đôi lứa, trào phúng, châm chọc thói hư tật xấu thời bấy giờ. 5 Điệu Chênh Bong Mang nét trữ tình, duyên dáng kết hợp sự vui tươi, nhiệt huyết của tình yêu đôi lứa tuổi mới lớn, cập kê. 6 Điệu Hò bốn mùa Còn gọi là Hò khoan được biểu diễn bởi 1 tập thể. Sở dĩ chúng khác với các loại hình hát Xẩm khác là vì chúng được dùng trong công việc của nông dân, hát hò trong những lúc cày cấy để nâng cao tinh thần. Sau này khi du nhập ra phố thị thì các nghệ nhân biểu diễn đã biến tấu đi để phù hợp hơn. 7 Điệu Hát ai Nội dung than thở về cuộc đời, xã hội, những khó khăn và khổ cực trong cuộc sống. Thường xuất hiện trong 1 số đoạn của bài xẩm. 8 Xẩm sai Bắt nguồn từ điệu hát Sai trong các nghi lễ trừ tà thời xưa. Phản ánh, lên án thói hư tật xấu trong xã hội. 9 Điệu Ba bậc Là một làn điệu độc đáo có tính tự sự gắn với tình yêu đôi lứa, tâm tư của chàng trai dành cho 1 cô gái, lời hát thường mang tính bác học dùng cho đối tượng tri thức. 10 Xẩm Hà Liễu Là những lời tự than, ai oán với các giai điệu da diết, chậm rãi. Điệu hát này còn được gọi là Nữ Oán hay Nhân tư. Chúng thường là các đoạn trong cả một bài Xẩm có thể kéo dài tới 10 khổ lời. 11 Xẩm tàu điện Ra đời trong thế kỷ XX tại Hà Nội khi các chuyến tàu trở thành nơi mưu sinh và là sân khấu của các nghệ sĩ hát Xẩm Nghệ thuật hát Xẩm có 2 làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào nhưng có tới 11 làn điệu khác nhau Nội dung, ca từ trong hát Xẩm Nghệ thuật hát Xẩm giống như hình thức hát nói, vừa hát vừa kể chuyện mang tính tự sự và lời văn. Hầu hết các bài Xẩm đều được truyền miệng và không có tác giả với các chủ đề thể hiện tâm tư, khát vọng của người dân, nông dân, thị dân, người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ. Đồng thời phản ánh suy nghĩ của bản thân trước xã hội, nhà nước thời bấy giờ. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài hát Xẩm nói về tinh thần lạc quan, tình yêu đôi lứa đẹp đẽ, sự cảm thông của các tầng lớp dân nghèo luôn tin vào một cuộc sống tốt đẹp hơn, biết ơn dưỡng dục của cha mẹ,… Sang đến thời kỳ chiến tranh, Xẩm còn có nội dung khích lệ tinh thần yêu nước, đấu tranh một lòng vì Đảng, vì nước, vì dân. Ca từ trong hát Xẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống ca dao, tục ngữ, dân ca của miền Bắc Việt Nam. Các bài thơ lục bát, biến thế có tiếng láy, tiếng đệm được lấy để làm lời hát Xẩm. Loại hình nghệ thuật này không quá hàn lâm mà chú trọng vào sự dung hoà, dễ hiểu với mọi người và phù hợp với năng khiếu của người biểu diễn. Ngay từ khi ra đời, Xẩm giống như một kênh thời sự bằng âm nhạc vậy, luôn mang những thông điệp phản ánh thời cuộc. Xẩm giống như một kênh thời sự bằng âm nhạc vậy, luôn mang những thông điệp phản ánh thời cuộc Nhạc cụ sử dụng trong hát Xẩm là gì? Ban đầu biểu diễn hát Xẩm chỉ sử dụng duy nhất một chiếc đàn nhị để độc tấu, nghệ nhân sẽ vừa đánh đàn và vừa hát. Tuy nhiên theo thời gian cũng như yêu cầu về số lượng nghệ sĩ biểu diễn cùng lúc, nhạc cụ sử dụng trong Xẩm cũng được phát triển phong phú hơn bao gồm Đàn nhị. Sênh. Trống mảnh trống Xẩm. Bộ phách. Đàn bầu. Đàn giáo. Thanh la. Đàn đáy. Trống cơm. Nhạc cụ sử dụng trong hát Xẩm thông dụng nhất là đàn nhị Những nghệ nhân hát Xẩm tiêu biểu nhất Từ cuối thế kỷ XX cho đến đầu thế kỷ XXI, các nghệ nhân cốt cán đều bước sang tuổi già và có những người đã mất đi đem theo giá trị văn hoá to lớn. Một số nghệ nhân hát Xẩm tiêu biểu nhất được biết đến rộng rãi Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu Bà được coi là người hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX quê ở Yên Mô Ninh Bình cũng là nơi mà loại hình nghệ thuật này ra đời. NSƯT Hà Thị Cầu giống như một báu vật nhân văn sống, những làn điệu cùng giọng hát của bà là những di sản quý còn sót lại của nghệ thuật Xẩm trong thời đại mới. Nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan NSND Thanh Ngoan là một trong những gương mặt nổi tiếng tại nhiều quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực hát Xẩm với tác phẩm “Sướng khổ vì chồng” và câu xẩm Thập ân. Những câu Xẩm chan chứa cảm xúc nỗi niềm không chỉ nhận được lời khen từ nhiều khán giả trong nước mà còn được yêu thích bởi nhiều khán giả nước ngoài tại châu Âu, châu Mỹ. Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan Nghệ sĩ nhân dân Mai Thuỷ NSND Mai Thuỷ vốn được biết tới là một trong những nghệ sĩ chèo trụ cột của nhà hát chèo Ninh Bình nhưng cô cũng là người đưa hát Xẩm phát triển trong giai đoạn mới, khi mà những nghệ nhân cũ dần vắng bóng. Nghệ sĩ nhân dân Mai Thuỷ Ngoài những cái tên kể trên thì còn một số nghệ nhân hát Xẩm cao tuổi vẫn còn hiện nay như Vũ Đức Sắc Hà Nội, Thân Đức Chinh Bắc Giang, Nguyễn Văn Khôi Hà Nội, Minh Sen, Tô Quốc Phương Thanh Hoá. Những bài hát Xẩm nổi bật trong văn hoá nước nhà Nhắc tới hát Xẩm thì nhất định bạn phải nghe lại một số tác phẩm tiêu biểu như Dạo chơi Long Thành Hát văn nhớ mẹ ta xưa Xẩm Thập ân Xẩm Giọt nước cánh bèo Xẩm ngược đời Xẩm Huế Tình Luận về kẻ dở người hay  Nghệ thuật hát Xẩm ngày nay có đang bị mai một? Nghệ thuật hát Xẩm đạt đỉnh cao từ cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19, trước đó thì đây được coi là nghề kiếm sống của nhiều người dân nghèo hoặc người bị tàn tật. Tuy nhiên sang đến thế kỷ 20 và thời kỳ chiến tranh nghệ thuật Xẩm đã phát triển theo hướng khác. Các tổ chức hỗ trợ người mù, người nghèo được hình thành, nhiều nghệ sĩ biểu diễn Xẩm dần vắng bóng. Sang tới đầu thế kỷ 21, loại hình nghệ thuật này được đưa ra nghiên cứu và bảo tồn và được đề cử là di sản thế giới cần được bảo tồn. Để giữ lại những giá trị tinh tuý nhất của hát Xẩm nhiều câu lạc bộ hát Xẩm được hình thành và dạy hát miễn phí cho những người muốn học. Nghệ thuật hát Xẩm ngày nay đang được gìn giữ và phát triển trở lại Tháng 1 năm 2022, hát Xẩm được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia đánh dấu thành quả nỗ lực của Sở Văn hoá và Thể thao cũng như của các nghệ sĩ yêu thích nghệ thuật này. Một số câu lạc bộ Xẩm nổi tiếng tính đến hiện nay phải kể đến như Câu lạc bộ xẩm Hà Thành Hà Nội Câu lạc bộ xẩm Hải Thành Hải Phòng Câu lạc bộ xẩm chợ Đồng Xuân Hà Nội Câu lạc bộ xẩm Yên Nhân Yên Mô, Ninh Bình Câu lạc bộ xẩm xã Yên Phong Yên Mô, Ninh Bình Và một số CLB xẩm tại Quảng Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Thanh Hóa. Mặc dù sau một thời gian dài nghệ thuật Xẩm cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác bị quên lãng, mai một dần nhưng với tinh thần bảo vệ, gìn giữ nét đẹp văn hoá của dân tộc những gì tinh tuý nhất về nghệ thuật Xẩm vẫn sẽ được lưu truyền theo thời gian. Hiện nghệ thuật hát Xẩm chỉ được biểu diễn trong các hệ thống âm thanh hội trường, nhà hát, sân khấu chứ không còn hát rong tại chợ, đường phố như thời xa xưa. Nghe hát Xẩm tại nhà chỉ với dàn âm thanh chất lượng Nghe hát xẩm hay nhất, trọn vẹn nhất là khi bạn có thể nghe trực tiếp tại những nơi biểu diễn. Tuy nhiên nếu bạn không có điều kiện hay khả năng thì lựa chọn một hệ thống âm thanh chất lượng để nghe hát xẩm cũng là một giải pháp tốt. Hát Xẩm sử dụng các nhạc cụ truyền thông với giọng hát giàu cảm xúc vì thế để tái hiện lại những điều tuyệt vời này bạn cần trang bị một hệ thống loa thực sự chất lượng. Những thương hiệu như loa karaoke JBL, Bose, BMB sẽ là lựa chọn tốt. Bạn cũng có thể sử dụng các dòng loa bluetooth, loa kéo hoặc loa vi tính để nghe nhưng chắc chắn sẽ khó mà cảm hết được nét đẹp, nét hay của bài hát. Trên đầy là bài viết giải đáp hát Xẩm là gì? Nguồn gốc lịch sử phát triển cũng như đặc điểm, các làn điệu của dòng nghệ thuật dân gian này. Mong rằng với những thông tin mà chúng tôi cung cấp sẽ giúp bạn hiểu hơn về nét đẹp văn hoá của người Việt – hát Xẩm. Theo dõi chúng tôi để biết thêm thật nhiều thông tin bổ ích khác nữa nhé! Hẹn gặp các bạn trong những bài viết sau. Với hơn 15 năm trong lĩnh vực âm thanh, tôi đã và đang setup rất nhiều hệ thống âm thanh khác nhau Từ các dàn loa đám cưới đến các hệ thống âm thanh sân khấu lớn. Với kinh nghiệm và đam mê công việc của mình chắc chắn khi có nhu cầu liên hệ đến bạn sẽ nhận được những tư vấn chất lượng và hiệu quả nhất! Nghe tiếp1 Hát văn Chân Quê’ NSƯT Đình Cương 0 30,748 2 Dâng Văn Chầu Tổ NSƯT Đình Cương 0 8,040 3 Hát Văn Tình Mẹ’ NSƯT Đình Cương 0 3,947 4 Chầu Bé Bắc Lệ NSƯT Đình Cương 0 3,123 5 Hát chầu văn nghĩa Mẹ công Cha NSƯT Đình Cương 0 3,117 6 Xẩm Mẹ Kể Con Nghe’ NSƯT Đình Cương 0 1,476 7 Chúa Thác Bờ NSƯT Đình Cương 0 1,280 Video xem nhiều Tuyển tập cải lương vọng cổ hơi dài Châu Thanh, NSƯT Phượng Hằng 47,562 Chèo Cổ Những Vở Hát Chèo Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Thanh Tuyết Thanh Tuyết 33,058 Những Bài Hát Chầu Văn Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Văn Chương NSƯT Văn Chương 20,996 Dòng Sông Quê Em NSND Lệ Thủy, NSND Thanh Tuấn 20,845 Lời mẹ hát NSND Hồng Lựu 17,668 Tuyệt tình ca Cải lương trước 1975 Hùng Cường, NSND Bạch Tuyết, NSND Út Trà Ôn, NSƯT Thanh Sang, NSƯT Út Bạch Lan 16,760 Phản hồi gần đâyLê Hùng trong Tình em xứ ThượngNGUYỄN VĂN HỆ trong Từ làng SenVUHAI trong Hát Ru – Đào LiễuNguyễn Huyền trong Cánh đồng Yên Dũngdương trong Hát chèo Hương bưởi GIỚI THIỆU VỀ HÁT XẨM Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, hát Xẩm luôn có vai trò và tầm ảnh hưởng nhất định đối với nền âm nhạc Việt Nam nói riêng và nền văn hoá của Việt Nam nói chung. Được biết tới là hình thức hát rong phổ biến trong xã hội phong kiến trước đây, Xẩm không chỉ là phương tiện kiếm sống của người khiếm thị, mà còn là hoạt động giải trí của người nông dân lúc nông nhàn, là tiếng lòng của con người với cuộc sống cá nhân, với xã hội và đất nước. NGUỒN GỐC – LỊCH SỬ1. Nguồn gốc hình thànhXẩm, trong tâm thức của nhiều người thường gắn với những người nghệ sĩ mù nghèo khổ, nay đây mai đó, dong ruổi trên từng con phố với cây đàn của mình. Thế nhưng, huyền tích về cội nguồn của Xẩm lại không hề tầm gánh hát Xẩm xưa Ảnh Báo tin tứcTheo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù lòa nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gảy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua cho mời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình, nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của thực tế, quả thật vua Trần Thánh Tông có hai người con trai, nhưng không ai tên Quốc Toán, Quốc Đĩnh. Do vậy, nguồn gốc của hát Xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy ra được chính sử. Mặc dù chưa tìm thấy một văn bản viết nào xác định nguồn gốc của hát Xẩm nhưng từ hàng trăm năm nay người đời vẫn truyền miệng nhau câu chuyện của đời nhà Trần. Cũng từ đó, người ta cũng nhìn thấy rằng, dòng dõi cao quý, cùng những thanh âm kỳ diệu của Xẩm không chỉ đem lại ấn tượng sâu sắc cho vua mà còn bộc lộ tinh thần lạc quan của những người mù loà, sẵn sàng vượt lên nghịch cảnh để kiếm ăn bằng chính tài năng và sức lực của mình. Do vậy, tính hàn lâm trong ca từ và sự chặt chẽ trong luật thơ của các bài Xẩm xưa hiện hữu vô cùng rõ nét, dẫu rằng nó gắn liền với đời sống dân dã bình một số nghiên cứu cho rằng, nghệ thuật hát Xẩm là một phiên bản khác của hát Chèo bởi hai thể loại này đều mang dấu vết của loại hình “hát nói” – xuất hiện từ thuở sơ khai của dân tộc cổ đại. Tuy nhiên, cái độc đáo của Xẩm so với Chèo nằm ở chỗ nghệ sĩ Chèo được trải dài từ nông thôn đến thành thị, từ quý tộc đến nông dân. Trong khi đó, nghệ nhân hát Xẩm là những người mù loà, thường không được học đầy đủ từ bé, sau lấy nghề hát rong trên đường kiếm sống. Khác với Chèo, nơi mà con người cảm nhận thế giới xung quanh qua đôi mắt của chính mình, còn ở Xẩm người nghệ sĩ lắng nghe sự sống bằng chính đôi tai của mình. Mất đi lăng kính của mình nhưng bù lại, nghệ nhân hát Xẩm lại cảm nhận được từng âm sắc đầy phong phú, từng nhịp sống hối hả hay chậm rãi khác nhau của mỗi người. Từ đây, họ định hình thế giới theo cách riêng của họ và thổi hồn vào những câu hát bằng những nét tinh tế xuất phát từ chính tâm hồn. Hài hòa mà sâu lắng, da diết mà âm vang, Xẩm hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành giai điệu khó quên dành cho mỗi thính giả, gửi gắm trong từng ca từ những dấu ấn khó phai từ một lăng kính khác Lịch sử hình thànhXa xưa, trên các bến đò quanh chợ, nơi đông người qua lại, không khó để ta bắt gặp hình ảnh bác Xẩm mù loà ngồi trên manh chiếu nát sờn, thổi hồn vào từng câu hát ngón đàn, làm vui lòng nhân gian cốt để đổi lấy đồng tiền bát gạo. Trong xã hội đặc thù thời bất giờ, Xẩm là người phổ biến lan truyền tốt nhất những câu ca dao tục ngữ qua những chuyện sinh hoạt, cất lên những oán thán cho sự bất công của xã hội và kể lại những câu chuyện với khát vọng về một cuộc sống đủ đầy, khát vọng thiện lương của nhân dân. Do vậy, trong một thời gian dài, Xẩm trở thành món ăn tinh thần của rất nhiều người. Cái hay của Xẩm còn ở chỗ, nó không chỉ phục vụ riêng cho một nhóm người nào, biểu diễn cũng rất linh hoạt ở bất cứ nơi đâu và hơn cả, là cốt cách những người nghệ sĩ không ủ vào tật nguyền để xin bố thí mà lo trau dồi lời ca tiếng hát của mình để kiếm vậy, Xẩm chỉ thật sự bùng nổ khi nó bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Xẩm lúc này không chỉ là những câu ca mua vui cho thính giả nữa, mà nó còn là một mắt xích vô cùng quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động. Xẩm dùng chính sự thân thuộc với người dân của mình để gửi gắm ý chí, đề cao khát vọng dân tộc. Sau cách mạng tháng Tám, hát Xẩm tiếp tục được chính quyền sử dụng trong tuyên truyền phong trào bình dân học vụ. Trong các giai đoạn lịch sử mà hát Xẩm đi cùng, có lẽ hình ảnh khó quên nhất là Xẩm Minh Sơn Thanh Hoá đã ôm cây đàn Nhị đi khắp nơi trên mặt trận binh để đem những lời ca hóm hỉnh, mang lại tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu thông cầu Hàm Rồng. Tiếc thay, từ thập niên 60 của thế kỉ XX trở lại đây, vì nhiều nguyên nhân khác nhau do điều kiện đặc thù của xã hội, đặc biệt là những quan niệm lệch lạc đã khiến các phường Xẩm dần mất đi vị thế trong đời sống tinh thần của người dân. Các nghệ nhân Xẩm tài danh dần bước vào tuổi xế chiều, rồi ra đi, lặng lẽ đem theo những giá trị to lớn mà họ từng cất giữ vào thực hành. Dẫu vậy, ngày nay, với các chính sách quan tâm đến bảo tồn văn hoá, Xẩm đang từng bước nhận được sự quan tâm từ mọi người bởi nó không chỉ dấu ấn to lớn của những người khiếm khuyết mà còn là một chứng nhân lịch sử quan trọng trong suốt nhiều thế tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Việt Ngữ 2002 – Hát xẩm3. Trần Thị Thanh Dung 2018 – Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá hát xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Luận văn Thạc sĩ Quản lý Văn hoá NỘI DUNG – LÀN ĐIỆU1. Nội dungHát Xẩm nằm trong loại hình hát nói kể chuyện, giai điệu hình thành chủ yếu dựa theo thanh điệu và ngữ điệu lời văn, nhiều tính tự sự. Nội dung của các bài hát Xẩm khá phong phú. Ngót nghét 400 bài hát và hầu hết trong số đó đều lưu giữ qua việc truyền miệng, không ai nhớ tên “tác giả”, đã phần nào biểu đạt được tâm tư, khát vọng của tầng lớp lao động, nông dân và thị dân xưa, đồng thời cũng cũng phản ánh suy nghĩ của chính nhân dân trước xã hội biến thiên thời người hát Xẩm, họ dùng giọng ca, tiếng đàn, lời hát để lên án, phản kháng những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, hay đôi khi là những tiếng hát có tính bi ai về số phận và cuộc sống của mình, đặc biệt từ cái nhìn của tầng lớp nghèo hoặc người phụ Xẩm Dạt Nước Cánh Bèo, trình bày bởi cố nghệ nhân Hà Thị Cầu, từ than số phận bản thân mà nói về cuộc sống vất vả của người phụ nữ trong xã hội xưa Nguồn YouTubeTuy nhiên, hát Xẩm vẫn cho thấy rõ tính nhân văn trữ tình hoà lẫn với niềm lạc quan. Điều này được thể hiện ở sự cảm thông và bênh vực cho những nỗi vất vả, khổ đau của tầng lớp nghèo, niềm tin yêu vào cuộc sống con người, những ước mơ lãng mạng bay xa. Trong Xẩm, mối quan hệ giữa con người với nhau như cha mẹ – con cái hay tình yêu đôi lứa cũng là một chủ đề thường gặp. Ở Xẩm, cái lạc quan, yêu đời thường lấn át những bi ra còn phải kể đến những bài Xẩm có nội dung khích lệ tinh thần yêu nước, một lòng với Đảng trong thời kỳ đất nước mưa bom, đạn lạc,…qua những lời hát Xẩm, những người nghệ sĩ đã phần nào truyền tải đi những thông điệp hết sức ý nghĩa về nhiều khía cạnh của xã hội. Theo nhạc sĩ Nguyễn Quang Long, ngay từ khi ra đời, Xẩm luôn là một “kênh” thông tin thời sự bằng âm nhạc, được dùng để truyền tải tình yêu quê hương, đất nước, truyền tải những thông điệp mang tính thời sự của xã Xẩm Theo Đảng trọn đời’ do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTubeLời ca của những bài Xẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc và quan hệ mất thiết với tục ngữ, dân dao, dân ca, dân nhạc vùng châu thổ sống Hồng, đúng ra vùng trung châu và đồng bằng phía Bắc, nên mang hầu hết đặc điểm của văn hoá dân gian vận dụng ngôn ngữ quần chúng đầy sáng tạo, kết hợp khôn khéo tiếng hát với tiếng nhạc cùng với động tác tuy còn đơn giản nhưng thuần phác. Khi tiếng ca Xẩm cất lên, người ta nghe thấy trong đó sự mộc mạc, giản dị và gần gũi. Cũng chính nhờ cái chân chất, thân quen trong mỗi câu hát đã giúp Xẩm vẫn tiếp tục hiện hữu trong chính xã hội hiện đại – nơi mà nhiều vẻ đẹp truyền thống đã bị bào mòn. Những bài Xẩm được hoàn thiện dần trên đường xẩm hành nghề, do sự đóng góp, trau chuốt của lớp lớp nghệ nhân truyền Làn điệu Ban đầu, hát Xẩm chỉ xuất hiện những làn điệu đơn giản, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân Xẩm Chợ, Xẩm Thập Ân,.. Sau này, Xẩm xuất hiện nhiều làn điệu hơn phù hợp với đời sống con người hiện đại. Các làn điệu xẩm thường được đặt tên theo bài hát, nơi biểu diễn, mục đích, nội dung. Điệu Xẩm Chợ Gắn liền với không gian biểu diễn là những nơi góc chợ, Xẩm Chợ thường giản dị, ngắn gọn, đậm tính hát kể chuyện và mang màu sắc hóm hỉnh, nhằm thu hút sự chú ý của người nghe. Dù vậy, đôi khi trong bài Xẩm Chợ vẫn tồn tại những giây phút sâu xa lắng bài Xẩm Chợ do NSƯT Văn Tỵ trình bày Nguồn YouTube Điệu Thập ân Xẩm Thập ân có nội dung là 10 điều ghi khắc công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha từ hồi con còn tấm bé đến lúc trưởng thành. Với tiếng ca giàu chất trữ tình, da diết, Xẩm Thập ân không chỉ nhắc nhở mỗi người nhớ về công lao của đấng sinh thành mà còn tượng trưng cho một ca giáo hiếu điển đoạn trích bài Thập Ân do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Phồn Huê Qua làn điệu Xẩm Phồn Huê, nghệ nhân hát Xẩm gửi gắm tới những người phụ nữ phong kiến một sự đồng cảm to lớn. Ca từ của Xẩm Phồn huê là tiếng nói thuật lại nỗi đau khổ, khó nhằn của người phụ nữ đương thời và cũng đồng thời châm biếm. chỉ trích thói xấu của người chồng, của gia đình và rộng hơn là của cả xã hội lúc bấy bài Xẩm Phồn Huê do NSND Xuân Hoạch trình bày Nguồn YouTube Điệu Riềm Huê Xẩm Riềm Huê hay còn được gọi là xẩm Huê Tình mang tiết tấu vui tươi, rộn ràng cộng thêm sự xuất hiện đặc sắc của trống cơm trên giai điệu đã giúp người nghệ sĩ xẩm truyền tải được rất nhiều nội dung phong phú từ tình yêu đôi lứa cho đến trào phúng, châm chọc các thói hư tật xấu hay cảm thông cho số phận bạc bẽo của những người phụ bài Xẩm Huê Tình do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Chênh Bong Làn điệu Chênh bông có nét đặc trưng trữ tình, duyên dáng nhưng cũng đầy vui tươi, nhiệt huyết của những chàng trai, cô gái đang độ tuổi cập kê muốn trao nhau những lời ong bướm. Điệu Hò bốn mùa Có tên gọi khác là Hò Khoan. Khác với các làn điệu còn lại, điệu Hò bốn mùa được biểu diễn bởi cả tập thể. Sở dĩ Hò bốn mùa được dùng trong cả tập thể bởi nó chuyên dùng trong công việc làm ăn của người nông dân, chẳng hạn như hát trong lúc cày cấy, gặt lúa. Khi ra tới Hà Nội hay các phố thị khác, làn điệu này được các nghệ nhân biến tấu đi để phù hợp với môi trường sống nơi tiết mục Hò Bốn Mùa Nguồn YouTube Điệu Hát ai Hát Ai là một điệu Xẩm có tính chất than thở chua chát, thường xuất hiện ở một số đoạn có nội dung buồn thảm trong các bài Xẩm dài. Khác với các làn điệu khác, trong bài Xẩm, Hát Ai thường không được sử dụng làm làn điệu chính. Xẩm Sai Điệu Xẩm Sai bắt nguồn từ điệu Hát Sai được các phù thuỷ xưa sử dụng trong các nghi lễ trừ tà xưa. Xẩm Sai thường dùng để lên án và đả kích những thói hư tật xấu trong xã Xẩm Thuốc Phiện’ do cố nghệ nhân Hà Thị Cầu trình bày Nguồn YouTube Điệu Ba bậc Ba bậc là làn điệu khá độc đáo của nghệ thuật Hát Xẩm. Ba bậc thiên về tính tự sự nhưng gắn với tình yêu đôi lứa, thường thể hiện tâm trạng của một chàng trai khi tương tư một cô gái. Xẩm Ba Bậc với những nét độc đáo của nó còn được các thể loại khác khai thác, như sang hát Ả đào gọi là Xẩm Nhà Tơ, Xẩm Nhà Trò, Xẩm Cô Đầu. Lời thơ thường mang tính bác học, dành cho đối tượng tri đoạn Xẩm Ba Bậc do NSND Xuân Hoạch trình bày Xẩm Hà Liễu Có tên gọi khác là Nữ Oán hay Nhân Tư, điệu Xẩm này như những lời tự than về nỗi ai oán, khổ đau của con người với nhịp điệu chậm rãi mà da diết, với những đoạn hát tuy không khéo dài mà cả bài có thể lên tới 10 khổ lời. Một bài tiêu biểu cho Xẩm Hà Liễu là bài Dạt Nước Cánh Bèo’ của cố nghệ nhân đã được trích dẫn ở đầu mục. Xẩm tàu điện Đây là loại xẩm được ra đời từ đầu thế kỉ XX ở môi trường đô thị Hà Nội, khi những chuyến tàu điện đã trở thành một sân khấu’ cho những nghệ sĩ Xẩm biểu diễn bằng cách đi qua các toa tàu. Các bài Xẩm thường có nhịp điệu nhanh, gọn, đôi khi được biểu diễn theo nhịp lắc lư của phóng sự ngắn về Xẩm Tàu điện Nguồn YouTubeNguồn tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Việt Ngữ 2002 – Hát xẩm3. Phạm Duy 2017 – Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam4. Trần Thị Thanh Dung 2018 – Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá hát xẩm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Luận văn Thạc sĩ Quản lý Văn hoá5. Nguyễn Phương Anh 2017 – Cùng tìm hiểu về 12 làn điệu Xẩm – NHẠC CỤ1. Nhạc cụ cơ bản Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và Sênh tiền, nhóm hát Xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát Xẩm. Đàn nhị Là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là đàn nhị 二. Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này Tày, Nùng, Mường, Dao…. Nhị là một nhạc cụ quan trọng, đóng vai trò chủ đạo không thể thiếu trong nghệ thuật hát Xẩm – là linh hồn của một bài nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao giọng kim. Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang người ta dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa của bát nhị khi ngồi trên ghế kéo đàn hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị khi ngồi trên phản kéo đàn, trên ghế hay các vị trí ngồi khác. Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền,…Nghệ nhân Hà Thị Cầu và cây đàn nhị Ảnh Tuổi Trẻ OnlineKỹ thuật đàn khá phong phú, bao gồm từ ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, ngón chuyền đến cung vĩ liền, cung vĩ ngắt, cung vĩ rời và cung vĩ rung,… Có tài liệu ghi lại rằng, trước đây người ta đã dùng đàn Bầu để đệm cho hát Xẩm nhưng sau này đã phát hiện ra đàn Nhị, tiếng đàn Nhị to hơn, phù hợp với chỗ đông người, đàn nhỏ gọn, tiện cho việc di chuyển… Trong hát Xẩm, đàn Nhị được sử dụng hết sức linh hoạt, mang nhiều tính ngẫu hứng. Tiếng đàn và giọng hát đan xen hòa quện với nhau, lúc trầm, lúc bổng. Sênh Sênh dùng đệm nhịp cho hát Xẩm có thể là sênh sứa gồm hai thanh tre hoặc gỗ hoặc sênh tiền có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc. Sênh tiền là một cặp phách hai lá bằng gỗ cứng. Lá phách thứ nhất gọi là “lá phách kép“, lá phách thứ hai gọi là “lá phách đơn“. Lá phách kép gồm hai thanh gỗ một dài 25 cm, một ngắn 11 cm được gắn úp vào nhau bằng một miếng da hay một bản lề. Phía đầu thanh dài có gắn các cọc tiền chinh. Lá phách đơn dài 25 cm có các đường rǎng cưa ở cạnh và ở mặt lá phách. Khi đánh phách, tay trái cầm lá phách kép, tay phải cầm lá phách đơn vừa đập, vừa rung, vừa quẹt tạo ra các tiết tấu nghe rất rộn ràng. Sênh tiền chủ yếu dùng đệm nhịp điệu ở các dàn nhạc tế, lễ, dàn đại nhạc cung đình và nhạc múa cổ tiền Ảnh Đọt chuối nonSênh sứa là loại phách gồm hai miếng tre giống như hình chiếc lá, chiều dài khoảng 14cm, chiều ngang đoạn giữa khoảng 5cm, bề cật tre là lưng, bề ruột tre là mặt. Cặp Kè tiếng trong, dòn, vui tươi, có những tiếng rung rất độc đáo. Khi biểu diễn Sênh Sứa, người chơi cầm đôi Cặp Kè trong lòng bàn tay, hai mặt lưng ấp vào nhau, cặp kè thường sử dụng hai đôi, cầm ở hai tay, với bàn tay điêu luyện, lúc mở lúc nắm vào, lúc rung các ngón tay, lúc tay này nắm tay kia mở, lưng cặp kè gõ vào nhau, tạo nên tiết tấu và hiệu quả âm thanh hấp dẫn. Sênh Sứa thường được sử dụng trong Ban nhạc Xẩm, đi cùng với Mõ tre nghe rất bình dị, hài sứa Ảnh Đọt chuối non2. Các nhạc cụ khác Trống mảnh Trống Xẩm hay còn gọi là trống mảnh, là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt. Tang trống bằng gỗ, cao khoảng 6 cm. Trống chỉ có một mặt, bịt bằng da, đường kính 10 cm. Đáy rộng hơn, đường kính 15 cm không bịt da. Dùi trống làm bằng gỗ cứng dài 20 cm. Khi diễn tấu trống mảnh được gõ bằng một dùi. Âm thanh trống mảnh đục, không vang. Trống có vai trò giữ phách, trong một bài xẩm đầu tiên phải có dạo trống, sau khi tiếng trống dứt là đến đàn nhị và sau đó là vào mảnh Nguồn Báo ảnh Việt Nam Phách Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Trong hát Xẩm phách gọi là cặp kè; trong Cải Lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách. Nhiệm vụ của phách trong một chiếu Xẩm là giữ nhịp cho dàn nhạc, người trong xẩm Ảnh Wikipedia Đàn bầu Thuở hàn vi, cây Đàn Bầu đơn sơ đã gắn liền với nghệ thuật hát Xẩm. Lúc bấy giờ, cây đàn thể hiện vai trò của mình trong việc đệm hát hoặc độc tấu. Sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn phù hợp với chỗ đông người nên thường được sử dụng. Đàn bầu là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Thời nhà Lý, Đàn Bầu được dùng để đệm cho người hát Xẩm, làm thanh bồi cho các khúc ca dân dã của nam thanh nữ tú tuổi tâm tình, của người già khắc khổ trong chuyến hành hương cuộc đời gian nan, của trẻ em hồn nhiên với tuổi thơ đầy bươn Xuân Hoạch hát Xẩm với cây đàn bầu Nguồn YouTube Đàn gáo Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo còn được gọi là đàn Hồ. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Người ta dùng nó để đệm cho các giọng nam trung, nam trầm, nữ trung còn gọi là giọng thổ, diễn tả những âm điệu suy tư, trầm mặc hoặc những giai điệu buồn. NSND Xuân Hoạch cùng cây đàn gáo Ảnh Báo Ảnh Việt Nam Thanh la Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang. Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong la Ảnh Đọt chuối non Đàn đáy Hát Xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. Đàn đáy là một nhạc cụ do dân tộc Việt Nam sáng tạo ra. Không rõ đàn đáy xuất hiện lần đầu vào năm nào nhưng nó được nhắc đến gần 200 năm qua. Đàn đáy có tên gốc là “đàn không đáy” tức “vô đề cầm“, vì nó không có đáy hậu đàn. Do đó người ta gọi tắt là đàn đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay. Một giả thuyết khác cho rằng nhạc cụ này có dây đeo bằng vải, dây này trong chữ Hán là “đái” đai nên mới gọi là “đàn đái”, đọc chệch lâu ngày thành “đàn đáy”.NSND Xuân Hoạch với cây đàn đáy trong chương trình Chuyện nhạc Phố cổ’ năm 2016 Ảnh Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Trống cơm Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam đời nhà Lý. Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ phạn là cơm, cổ là trống. Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm, trong đó có hát Xẩm. Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là “trống cơm”.Một bài xẩm có dùng trống cơm Nguồn YouTubeNguồn tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Trần Văn Khê 2004 – Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam XẨM NGÀY NAYNghệ thuật Xẩm Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, bên cạnh những bài Xẩm cổ như Xẩm thập ân, Xẩm chợ, Xẩm tàu điện…, gần đây, các nghệ sĩ cũng sáng tác nhiều bài Xẩm mới, với lời hát thể hiện cái nhìn của giới trẻ về cuộc sống. Theo nhiều nhà nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này, những thay đổi song song với việc phát triển Xẩm cổ đã và đang đưa hát Xẩm đến với nhiều đối tượng khán thính giả hơn, bên cạnh đó cũng góp phần bảo tồn và phát triển phong phú, đa dạng loại hình nghệ thuật của cội nguồn dân gian. Điều này thể hiện rõ trong những năm trở lại đây, Xẩm đã trở nên quen thuộc hơn với khán giả trong và ngoài Xẩm cổ động Tiêu diệt Corona’ của nhóm Xẩm Hà Thành Nguồn Nhóm Xẩm Hà ThànhNgoài ra, việc bảo tồn và gìn giữ lại những nét tinh túy nhất của Xẩm cổ cũng rất quan trọng. Hiện nay, rất nhiều các câu lạc bộ ở các tỉnh thành phía Bắc được lập ra nhằm mục đích truyền dạy lại bộ môn hát Xẩm, có thể kể ra như Câu lạc bộ Xẩm Yên Nhân Yên Mô, Ninh Bình, Câu lạc bộ Xẩm xã Yên Phong Yên Mô, Ninh Bình, Câu lạc bộ Xẩm Hà Thành Hà Nội, Câu lạc bộ Xẩm chợ Đồng Xuân Hà Nội,…Đặc biệt Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam còn tổ chức dạy hát Xẩm miễn phí cho những người muốn học, với mong muốn nghệ thuật hát Xẩm ngày càng được nhiều người biết đến, đặc biệt là các bạn trẻ. Nhóm Xẩm Hà Thành Ảnh Công an Nhân dân onlineBên cạnh những nỗ lực truyền dạy cho thế hệ trẻ ngày nay, các ban, sở và cơ quan chính quyền đã có những chính sách và động thái nhằm đưa hát Xẩm đứng đúng vị trí vốn có của một loại hình nghệ thuật dân gian. Tỉnh Ninh Bình cùng các tỉnh khu vực phía Bắc đang có những nỗ lực đệ trình UNESCO công nhận hát Xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp. Nhằm tiếp tục phát huy giá trị của nghệ thuật hát Xẩm cũng nhữ kết nối các câu lạc bộ và những người đam mê, từ ngày 3 đến 5-12, Liên hoan các câu lạc bộ hát Xẩm khu vực phía Bắc lần thứ I – năm 2019 diễn ra tại tỉnh Ninh Bình với sự tham gia của 15 câu lạc bộ hát Xẩm ở các tỉnh, thành phố phía hoan các câu lạc bộ hát Xẩm khu vực phía Bắc lần thứ I – năm 2019 tại Ninh Bình Ảnh TTXVNĐây chính là thành quả của việc nỗ lực bảo tồn và lan tỏa nghệ thuật hát Xẩm đến từ Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình phối hợp với Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy âm nhạc dân tộc đã tổ. Đây là hoạt động mang tính “chính danh” đầu tiên cho nghệ thuật hát Xẩm sau 15 năm các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ, nghệ nhân nỗ lực bảo tồn, gìn giữ và đưa hát Xẩm trở lại với công chúng. Không những thế, hát Xẩm còn trở thành “sứ giả văn hóa” được các nghệ sĩ mang ra nước ngoài biểu diễn. Các nghệ sĩ đã mang Xẩm đi giới thiệu và biểu diễn ở nhiều nước như Nhật Bản, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc… và nhận được sự đón nhận nhiệt tình của khán giả. Có cộng đồng người Việt ở nước ngoài vì mê Xẩm nên cũng đã thành lập câu lạc bộ hát Xẩm. Có những sinh viên nước ngoài còn xin học bổng để sang Việt Nam học hát các hoạt động truyền dạy hát Xẩm, biểu diễn, phục vụ các sự kiện và biểu diễn phục vụ khách du lịch cùng nỗ lực từ hoạt động của các cơ quan chức năng ở địa phương, nghệ thuật hát Xẩm đang được bảo tồn, phát huy, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tham khảo 1. Wikipedia tiếng Việt – Xẩm2. Phương Lan 2019 – Hát xẩm – Hành trình đến di sản – Bài 1, Bài 2, Bài 3 – Minh Phương 2019 – Liên hoan hát xẩm các tỉnh khu vực phía Bắc-Ninh Bình năm 2019 Cuộc hội ngộ của những người yêu nghệ thuật hát Xẩm – Báo Ninh Bình Thể loại Hát XẩmLượt nghe 785 Thời lượng 5217 4,7 ★ 3 người đánh giá - Những Bài Hát Xẩm Chọn Lọc Hay Nhất 2020 Hay Nhất Mọi Thời Đại. Tuyển Tập Các Bài Hát Xẩm Chọn Lọc Hay Nhất Như Hát Xẩm, Nhạc Cả Lương, Quan Họ Bắc Ninh, Hát Chầu Văn, Hát Chèo, Hát Xẩm MP3 Chọn Lọc Hay 2020. I. Hát Xẩm là gì?II. Nguồn gốc của nghệ thuật hát XẩmIII. Đặc điểm của hát XẩmIV. Nội dung, ca từ trong hát XẩmV. Nhạc cụ sử dụng trong hát XẩmVI. Giá trị văn hóa lịch sử của Hát XẩmVII. Ý nghĩa của Hát XẩmVIII. Những nghệ nhân hát Xẩm tiêu biểu nhất1. Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu2. Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan3. Nghệ sĩ nhân dân Mai ThuỷIX. Những bài hát Xẩm hay nhất1. NSƯT Hà Thị Cầu với Những bài Xẩm hay nhất2. NSƯT Thanh Ngoan – Những bài hát xẩm hay nhấtX. Nghệ thuật Hát Xẩm ngày nayI. Hát Xẩm là gì? Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật ca hát truyền thống của Việt Nam, do các nghệ nhân hát Xẩm biểu diễn trong các buổi diễn Xẩm. Đó là một thể loại thơ ca dân gian được truyền miệng qua nhiều thế hệ. Hát Xẩm là loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian đặc trưng nhất so với các loại hình nghệ thuật khác. Bản chất của Hát Xẩm là kể chuyện bằng lối hát tự nhiên, chân thực như kể chuyện. Xẩm được biểu diễn bằng sự kết hợp độc đáo giữa hát xẩm với âm thanh của các nhạc cụ truyền thống như đàn nhị, đàn bầu, trống, bộ phách…. Các làn điệu xẩm thường được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang đậm giá trị văn hóa, lịch sử đối với dân tộc Việt Nam. II. Nguồn gốc của nghệ thuật hát Xẩm Nguồn gốc của nghệ thuật hát Xẩm được cho là xuất phát từ vùng đất cổ xưa phía Bắc Việt Nam, khu vực địa bàn các tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, và các tỉnh lân cận. Từ những năm đầu thế kỷ XX, nghệ thuật hát Xẩm đã trở thành một hoạt động văn hóa phổ biến trong đời sống của người dân miền Bắc. Những bài Xẩm thường được biểu diễn trong các dịp hội hè, lễ cưới, đám ma, hay những dịp quan trọng khác. Nghệ thuật hát Xẩm được truyền lại qua nhiều thế hệ và trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa dân gian Việt Nam. Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện đại, nghệ thuật Xẩm đang dần mất đi sức hấp dẫn và thu hút của mình. Do đó, việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật Xẩm đang được quan tâm và triển khai nhằm giữ gìn và phát triển tài sản văn hóa dân gian của đất nước. III. Đặc điểm của hát Xẩm Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân gian Việt Nam, có những đặc điểm chung sau Nội dung Xẩm thường phản ánh cuộc sống, tình yêu, nỗi niềm và tâm trạng của con người Việt Nam. Âm nhạc Âm nhạc Xẩm sử dụng những cây đàn nhỏ, có cấu trúc giống đàn đáy và thường được trang trí bằng các họa tiết đẹp mắt. Ngoài ra, các nghệ sĩ Xẩm còn sử dụng những loại nhạc cụ khác như trống, đàn bầu… để tạo ra những âm thanh đặc trưng của Xẩm. Phong cách biểu diễn Nghệ sĩ Xẩm thường biểu diễn với tư thế ngồi, cầm đàn và thường hát với giọng nhẹ nhàng, mộc mạc và sâu lắng. Ngôn ngữ Xẩm thường sử dụng ngôn ngữ đặc biệt, gồm các từ ngữ phong phú và đặc trưng của người miền Bắc Việt Nam. Trang phục Nghệ sĩ Xẩm thường mặc áo dài truyền thống, kết hợp với các phụ kiện như khăn đóng, mũ nón và giày dép đặc trưng của miền Bắc. Địa điểm biểu diễn Xẩm thường được biểu diễn tại các phố, chợ, hoặc trong các lễ hội, tín ngưỡng, những dịp trọng đại của người dân. Hình thức biểu diễn Xẩm thường được biểu diễn dưới dạng đội hát, trong đó một nhóm các nghệ sĩ Xẩm sẽ hát và chơi nhạc cùng nhau. Các ca khúc Xẩm thường được trình bày theo từng đoạn, mỗi đoạn kéo dài khoảng 2-3 phút, và được liên kết với nhau để tạo thành một câu chuyện dài. Nghệ sĩ Xẩm Nghệ sĩ Xẩm là những người có tài năng và khả năng diễn xuất tốt, thường học nghề từ những người đi trước và truyền lại cho thế hệ sau. Họ cần phải có kiến thức văn hóa đa dạng, sự tinh tế và cảm nhận sâu sắc về những tâm trạng của con người để có thể thể hiện tốt nội dung và tình cảm trong các ca khúc Xẩm. IV. Nội dung, ca từ trong hát Xẩm Nội dung của hát Xẩm thường phản ánh cuộc sống, tình yêu, nỗi niềm và tâm trạng của con người Việt Nam, thể hiện qua các ca từ đầy tình cảm và sâu sắc. Các ca từ trong hát Xẩm thường được sáng tác và thể hiện bằng ngôn ngữ đặc biệt của miền Bắc Việt Nam, có chất giọng đặc trưng và những từ ngữ mang đậm tinh thần dân tộc. Một số chủ đề thường xuất hiện trong hát Xẩm bao gồm Tình yêu Tình yêu là một chủ đề rất phổ biến trong hát Xẩm, thể hiện qua những ca khúc về tình yêu lứa đôi, tình yêu thầm kín, tình yêu không được chấp nhận hay tình yêu xa xôi. Cuộc sống Xẩm cũng phản ánh cuộc sống của người dân, thể hiện qua những ca khúc về cuộc sống quanh ta, cuộc sống của người nghèo khó, cuộc sống trong nông thôn hay cuộc sống ở thành phố. Tình huống xã hội Xẩm còn phản ánh những tình huống xã hội, thể hiện qua những ca khúc về chính trị, tình hình đất nước, sự bất công hay những vấn đề xã hội khác. Tâm trạng Xẩm cũng thể hiện tâm trạng của con người, thể hiện qua những ca khúc về những nỗi buồn, nỗi niềm đau hay những suy tư của con người. Tất cả các chủ đề này đều được thể hiện qua các ca từ đầy cảm xúc, sâu sắc và có tính nhân văn cao. Các nghệ sĩ Xẩm cũng thường sử dụng các kỹ thuật biểu diễn khác nhau để tạo ra cảm giác sâu sắc và gây ấn tượng với khán giả. V. Nhạc cụ sử dụng trong hát Xẩm Ban đầu, khi biểu diễn nghệ thuật hát Xẩm, chỉ có một chiếc đàn nhị được sử dụng để độc tấu, và nghệ nhân sẽ vừa đánh đàn vừa hát. Tuy nhiên, với sự phát triển của thời gian và nhu cầu về số lượng nghệ sĩ biểu diễn cùng lúc, nhạc cụ được sử dụng trong Xẩm cũng đã được phong phú hơn. Các nhạc cụ bao gồm đàn nhị, sênh, trống mảnh trống Xẩm, bộ phách, đàn bầu, đàn giáo, thanh la, đàn đáy, và trống cơm. Những nhạc cụ này được kết hợp với nhau để tạo ra những giai điệu và âm thanh đặc trưng của nghệ thuật hát Xẩm. VI. Giá trị văn hóa lịch sử của Hát Xẩm Nghệ thuật Hát Xẩm đã phản ánh một phần hiện thực đời sống xã hội trong quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam. Trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, những người biểu diễn Hát Xẩm thường truyền tải những câu chuyện cổ tích, truyện nôm, thần thoại và câu tục ngữ, cùng với những chuyện bất công xã hội và tình trạng đói nghèo. Nội dung của nghệ thuật này thường phản ánh các sự kiện đương thời và thái độ của người dân đối với quân xâm lược và sự thương cảm với đồng bào tổ quốc. Hát Xẩm không chỉ có giá trị lịch sử văn hóa mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Với tinh thần đoàn kết và cảm thông trước hoàn cảnh khó khăn của những người cùng chung cảnh ngộ, các nghệ sĩ Hát Xẩm không chỉ chia sẻ niềm vui, nỗi buồn mà còn chia sẻ thành quả lao động của họ với những người khác để giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh hơn. Các gánh Hát Xẩm được thành lập để tụ họp những người có hoàn cảnh tương tự, mang lời ca và tiếng hát đi khắp nơi để kiếm sống và cùng nhau vượt lên trên số phận, sống một cuộc sống lạc quan hơn. VII. Ý nghĩa của Hát Xẩm Những bài hát Xẩm chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh, mang tính giáo dục, và nhân văn sâu sắc. Nghe và học hát Xẩm sẽ giúp người ta cảm nhận được ý nghĩa của từng câu lời, giai điệu, và hiểu thêm về cuộc sống, số phận, cũng như những kinh nghiệm sống của thế hệ trước. Hát Xẩm cũng giúp truyền thống yêu nước và mang lại niềm vui, sức sống và giá trị cộng đồng cho người nghe. Trong quá khứ, Xẩm được xem là một hình thức giải trí và thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Xẩm đã được sử dụng để tuyên truyền chính sách và đã góp phần quan trọng trong chiến thắng của quân và dân ta. Hiện nay, việc truyền thông thông tin được hỗ trợ bằng công nghệ hiện đại, nhưng vẫn không thể thay thế vai trò của nghệ sĩ và con người. Bằng cách hát và thưởng thức nghệ thuật dân gian như Xẩm, chúng ta có thể phong phú hóa đời sống tinh thần của cộng đồng. Nghệ thuật hát Xẩm vẫn đóng một vai trò quan trọng trong kho tàng âm nhạc dân tộc và đời sống cộng đồng. Với ý thức giữ gìn văn hóa âm nhạc truyền thống, nghệ thuật hát Xẩm được xem như một “kho tàng tri thức” mà thế hệ trước đã sáng tạo, thực hành và truyền dạy cho các thế hệ sau. VIII. Những nghệ nhân hát Xẩm tiêu biểu nhất Tới giữa thế kỷ XX, hát Xẩm vẫn được thực hành bởi những nghệ nhân tài ba như Nguyễn Văn Nguyên còn gọi là cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc Hà Nội, Thân Đức Chinh Bắc Giang, Nguyễn Phong Sắc Hải Dương, cụ Trùm Khoản Sơn Tây, cụ Chánh Trương Mậu Ninh Bình, cụ Đào Thị Mận Hưng Yên, cụ Trần Thị Nhớn Nam Định, Trần Thị Thìn và Nguyễn Văn Khôi Hà Đông, cùng với nhiều nghệ nhân khác. Tuy nhiên, sau đó, nghệ nhân hát Xẩm chỉ còn rất ít, chỉ còn nghệ nhân Hà Thị Cầu vợ của ông Chánh Trương Mậu – trùm Xẩm đất Ninh Bình xưa vẫn tiếp tục truyền dạy và thực hiện nghề hát Xẩm. 1. Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu Hà Thị Cầu 1928-2013 tên thật Hà Thị Năm, bà là một trong những nghệ nhân Xẩm nổi tiếng, bà được mệnh danh là người đàn bà hát Xẩm cuối cùng của thế kỷ XX của Việt Nam. Hà Thị Cầu sinh ra ở Ý Yên, Nam Định sau đó về quê nội sinh sống ở xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Khi còn nhỏ Hà Thị Cầu đã theo cha mẹ đi hát xẩm, sau đó bà học hát trong gánh hát của ông trùm xẩm Chánh Trương Mậu, người sau này là chồng bà. Hà Thị Cầu cũng được biết đến với giọng hát đầy cảm xúc và nội lực, sức truyền cảm hùng hồn, khiến khán giả vô cùng xúc động. Bà đã biểu diễn Xẩm trên khắp các sân khấu ở Hà Nội và các tỉnh thành lân cận. Với tài năng của mình, Nghệ sĩ ưu tú NSƯT Hà Thị Cầu đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển và bảo tồn nghệ thuật Xẩm. Bà đã truyền lại kiến thức và kinh nghiệm của mình cho nhiều học trò, giúp họ trở thành những nghệ nhân Xẩm tài năng. Trong suốt sự nghiệp của mình, nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu đã được ghi nhận với nhiều giải thưởng và danh hiệu, trong đó có danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú lĩnh vực Hát Xẩm năm 2003, Nghệ nhân dân gian năm 2004, Giải thưởng Đào Tấn năm 2008. Bà cũng đóng vai trò tích cực trong việc quảng bá âm nhạc và văn hóa Việt Nam, cả trong nước và quốc tế. Di sản của nghệ nhân Hát Xẩm Hà Thị Cầu tiếp tục truyền cảm hứng và ảnh hưởng đến các thế hệ nghệ sĩ trẻ ở Việt Nam. 2. Nghệ sĩ nhân dân Thanh Ngoan Tài năng của NSND Thanh Ngoan trong lĩnh vực hát Xẩm đã được biết đến rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới với những tác phẩm nổi tiếng như “Sướng khổ vì chồng” và câu xẩm “Thập ân”. Những câu hát xẩm này chứa đựng những cảm xúc chân thành và chân thật, không chỉ được người xem trong nước đánh giá cao mà còn được yêu thích bởi khán giả ở các châu lục như châu Âu và châu Mỹ. 3. Nghệ sĩ nhân dân Mai Thuỷ NSND Mai Thuỷ không chỉ là một trong những nghệ sĩ chèo xuất sắc của nhà hát chèo Ninh Bình mà cô còn là người đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm trong thời kỳ mới, khi những nghệ nhân truyền thống dần bị thay thế. Ngoài các danh hài đã được đề cập ở trên, còn có một số nghệ nhân hát Xẩm cao tuổi vẫn tiếp tục hoạt động như Vũ Đức Sắc Hà Nội, Thân Đức Chinh Bắc Giang, Nguyễn Văn Khôi Hà Nội, Minh Sen, Tô Quốc Phương Thanh Hoá. IX. Những bài hát Xẩm hay nhất Nghệ thuật Hát Xẩm có rất nhiều bài hát hay và đa dạng về nội dung. Dưới đây là một số bài hát Xẩm nổi tiếng và được yêu thích Dạo chơi Long Thành, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Xẩm Thập ân, Xẩm Giọt nước cánh bèo, Xẩm ngược đời, Xẩm Huế Tình, Luận về kẻ dở người hay. 1. NSƯT Hà Thị Cầu với Những bài Xẩm hay nhất &65279; 2. NSƯT Thanh Ngoan – Những bài hát xẩm hay nhất X. Nghệ thuật Hát Xẩm ngày nay Nghệ thuật Hát Xẩm là một hình thức âm nhạc dân tộc truyền thống của Việt Nam. Trong quá khứ, Hát Xẩm từng được ưa chuộng ở các làng quê, thị trấn và thị xã trên khắp Việt Nam, nhưng hiện nay nó đã trở thành một hình thức nghệ thuật ít được biết đến và được giới trẻ hiếm khi thực hiện. Tuy nhiên, vẫn có một số nghệ sĩ và nhóm nghệ sĩ trẻ đang nỗ lực để duy trì và phát triển nghệ thuật Hát Xẩm. Họ đã cập nhật lại lời bài hát và điệu nhạc để phù hợp với thị hiếu của thế hệ trẻ hơn. Ngoài ra, những chương trình biểu diễn và hoạt động giáo dục nhằm giới thiệu và giáo dục về nghệ thuật Hát Xẩm đang được tổ chức tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Tuy nhiên, những nỗ lực này chưa đủ để đưa nghệ thuật Hát Xẩm trở lại thời kỳ hoàng kim của mình. Để tăng cường sự phát triển của Hát Xẩm, cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ phía chính quyền, các tổ chức và cộng đồng, đồng thời cần tạo điều kiện thuận lợi để các nghệ sĩ trẻ có thể truyền lại nghệ thuật này cho thế hệ sau. Tìm hiểu về văn hóa tâm linh của người Việt từ xưa tới nay. Phong tục tập quán, tín ngưỡng Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Đạo Mẫu. Nghe tiếp1 Hát chầu văn ông Hoàng Mười hay nhất NSUT Xuân Hinh 0 4,178 2 Những bài văn ca thánh mẫu hay nhất của NSUT Xuân Hinh NSUT Xuân Hinh 0 1,310 3 Xuân Hinh và khúc hát văn NSUT Xuân Hinh 0 1,133 4 Dân ca và nhạc cổ truyền Giao duyên mời trầu NSƯT Thu Huyền, NSUT Xuân Hinh 0 779 5 Nhớ đêm giã bạn NSUT Thanh Thanh Hiền, NSUT Xuân Hinh 0 341 6 Văn quan Đệ Ngũ NSUT Xuân Hinh 0 262 7 Xuân Hinh với hát chầu văn NSUT Xuân Hinh, Đài PT và TH Ninh Bình 0 212 8 Văn Thờ NSUT Xuân Hinh 0 203 9 Giã bạn NSUT Thanh Thanh Hiền, NSUT Xuân Hinh 0 197 10 Văn cô Ba NSUT Xuân Hinh 0 182 Video xem nhiều Tuyển tập cải lương vọng cổ hơi dài Châu Thanh, NSƯT Phượng Hằng 47,562 Chèo Cổ Những Vở Hát Chèo Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Thanh Tuyết Thanh Tuyết 33,058 Những Bài Hát Chầu Văn Hay Nhất Của Nghệ Sĩ Văn Chương NSƯT Văn Chương 20,996 Dòng Sông Quê Em NSND Lệ Thủy, NSND Thanh Tuấn 20,845 Lời mẹ hát NSND Hồng Lựu 17,668 Tuyệt tình ca Cải lương trước 1975 Hùng Cường, NSND Bạch Tuyết, NSND Út Trà Ôn, NSƯT Thanh Sang, NSƯT Út Bạch Lan 16,760 Phản hồi gần đâyLê Hùng trong Tình em xứ ThượngNGUYỄN VĂN HỆ trong Từ làng SenVUHAI trong Hát Ru – Đào LiễuNguyễn Huyền trong Cánh đồng Yên Dũngdương trong Hát chèo Hương bưởi

các bài hát xẩm